- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh Q và đồng phạm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Minh Q, Nguyễn Hữu T1, Lê Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Thanh L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2023/HS-ST Ngày: 05-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Tình;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hữu Ái và ông Phan Quang Sơn;
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Vĩnh Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân;
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa: Ông Lê Phi Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2023, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Minh Q (tên gọi khác: Cu l). Sinh năm 1996, tại Bình Phước; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn TH, xã TH, huyện HT, tỉnh BT; nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh T (chết) và bà Huỳnh Thị P; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 17/HSST ngày 29/4/2016 bị TAND huyện HT xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 26/01/2018 chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án. Bị cáo bị bắt ngày 23/02/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an thị xã LG, có mặt tại phiên tòa.
2. Lê Đình T (tên gọi khác: Nhỏ). Sinh năm 1997, tại Bình Thuận; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn HL, xã TH, huyện HT, tỉnh BT; nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đình H và bà Phạm Thị Ng; tiền án: Tại bản án số 35/HSST ngày 29/9/2020 bị TAND huyện HT xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 25/01/2022 chấp hành xong hình phạt tù; tiền sự: Không; nhân thân: Tại Quyết định số 35/2019/QĐ-TA ngày 18/6/2019 của TAND huyện X, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 12 tháng. Tại Quyết định số 78/QĐ-UBND ngày 19/5/2020 của Chủ tịch UBND xã TH Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời hạn 06 tháng. Bị cáo bị bắt ngày 23/02/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an thị xã LG, có mặt tại phiên tòa.
3. Nguyễn Hữu T1 (tên gọi khác: Không). Sinh năm 1996, tại Bình Thuận; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn ST, xã TH, huyện HT tỉnh BT; nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (chết) và bà Võ Thị Ph; sống chung như vợ chồng với Nguyễn Thị Thanh T (không đăng ký kết hôn) có 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt ngày 23/02/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an thị xã LG, có mặt tại phiên tòa.
4. Nguyễn Thanh L, (Tên gọi khác:Không). Sinh năm 1997 tại Bình Thuận; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn TH, xã TH, huyện HT, tỉnh BT; nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Đ; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt ngày 23/02/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an thị xã LG, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 30 phút, Công an xã TH, huyện Hàm Tân tỉnh Bình Thuận T1 hành tuần tra trên địa bàn; khi đi đến đoạn đường số 17, trước nhà bà Lý Thị M thuộc thôn TH, xã TH thì phát hiện thấy Lê Đình T có biểu hiện nghi vấn nên T1 hành kiểm tra; đồng thời thu giữ dưới chân của T 03 đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng nén. T khai nhận vừa mua số ma túy của Nguyễn Thanh L tại nhà của Nguyễn Minh Q nên Công an xã TH phối hợp cùng Công an huyện Hàm Tân T1 hành kiểm tra nhà Nguyễn Minh Q. Qua kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Minh Q cất giấu 10 tép Heroine, 01 bịch ma túy đá trong tủ đựng chén tại nhà bếp, 02 tép Heroine trong túi xách và 01 tép Heroine trong túi quần của Nguyễn Minh Q để ở phòng ngủ của Q; phát hiện trong túi áo khoác của Nguyễn Hữu T1 có 01 gói ma túy đá; phát hiện trong xô nhựa đựng thức ăn cho gà để ở chuồng gà phía sau nhà có 04 tép Heroine (do Nguyễn Thanh L cất giấu để bán cho người khác). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với L, Q, T1 và thu giữ tang vật liên quan.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thanh L, Nguyễn Hữu T1, Nguyễn Minh Q và Lê Đình T đã khai nhận như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 22/02/2023, Nguyễn Minh Q đến khu vực Tân L, phường Bình T, thị xã LG, tỉnh Bình Thuận gặp một người tên là Má T (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 05 tép ma túy với giá 500.000 đồng và 01 gói ma túy đá với giá 250.000đ. Sau khi mua được ma túy, Q đem về nhà tại nhà mìn phân chia 05 tép Heroine thành 15 tép nhỏ đựng trong ống hút nhựa màu trắng rồi cất giấu 10 tép Heroine và 01 gói ma túy đá trong tủ đựng chén ở nhà bếp, còn 05 tép Heroin Q bỏ vào túi xách đựng quần áo để khuya mang đi biển sử dụng. Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 23/02/2023, Q đem túi xách có 05 tép Heroine đi biển, Q đã sử dụng hết 02 tép Heroine, còn lại 02 tép Q để trong túi xách và 01 tép bỏ trong túi quần.
Khoảng 22 giờ ngày 22/02/2023, Nguyễn Thanh L (người yêu của em gái Nguyễn Minh Q; L thường xuyên đến nhà Q chơi và ở lại) đến khu vực Tân L, phường Bình T, thị xã LG, tỉnh Bình Thuận gặp một người tên Má T mua 07 tép Ma túy với giá 400.000đ rồi đem về nhà Nguyễn Minh Q cất giấu trong xô nhựa đựng thức ăn cho gà để ở chuồng gà phía sau nhà nhằm mục đích bán cho các con nghiện tại địa phương để kiếm lời. Khoảng 11 giờ ngày 23/02/2023, Nguyễn Hữu T1 đến nhà Nguyễn Minh Q để trả tiền. Lúc này Q đi biển chưa về; T1 đưa cho L 500.000đ, trong đó trả cho L 200.000đ và trả cho Q 300.000đ, khi đi T1 cất giấu trong túi áo khoác 01 gói ma túy đá (đã mua vào ngày hôm trước để sử dụng nhưng chưa sử dụng). Sau khi trả tiền thì T1 ngồi nói chuyện với L ở nhà bếp. Một lúc sau, Lê Đình T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 86X1-2344 đến nhà Q gặp L hỏi mua 03 tép Heroine nhằm mục đích sử dụng, L đồng ý và ra xô nhựa đựng thức ăn cho gà lấy 03 tép Heroine bán cho T với giá 280.000đ. Khi T mang ma túy ra khỏi nhà Q thì Q đi biển về nhà mang theo túi xách chứa 02 tép Heroine và 01 tép Heroine bỏ trong túi quần để trong phòng ngủ của mình.
Tại bản kết luận giám định số 228/KL-KTHS ngày 02/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận đã kết luận:
+ Chất dạng tinh thể màu trắng chứa trong gói nylon hàn kín, kích thước (2,5 x 01)cm thu giữ của Nguyễn Hữu T1 là Methamphetamine khối lượng 0,1559 gam.
+ Chất dạng tinh thể màu trắng chứa trong gói nylon có khóa nhíp màu đỏ kích thước (04 x 07)cm thu giữ của Nguyễn Minh Q là Methamphetamine khối lượng 1,4780 gam.
+ Chất dạng nén màu trắng chứa trong 13 đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín, kích thước mỗi đoạn (01 x 0,5)cm thu giữ của Nguyễn Minh Q là Heroine khối lượng 0,3581 gam.
+ Chất dạng nén màu trắng chứa trong 04 đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín, kích thước mỗi đoạn (01 x 0,5)cm thu giữ của Nguyễn Thanh L là Heroine khối lượng 0,1826 gam.
Tại bản kết luận giám định số 229/KL-KTHS ngày 02/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận kết luận: Chất dạng nén màu trắng chứa trong 03 đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín, kích thước mỗi đoạn (01 x 0,5)cm thu giữ của Lê Đình T là Heroine khối lượng 0,1510 gam.
Vật chứng của vụ án gồm:
- 780.000đ thu giữ trên người Nguyễn Thanh L
- 01 gói nylon đã cắt lấy mẫu cùng 0,1388 gam mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 228/1, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận. 01 gói nylon một đầu có khóa kéo viền đỏ và 13 đoạn ống hút nhựa màu trắng đã cắt lấy mẫu cùng 1,4521 gam mẫu M2 và 0,3318 gam mẫu M3 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 228/2, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận. 04 đoạn ống hút nhựa màu trắng đã cắt lấy mẫu cùng 0,1540 gam mẫu M4 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 228/3, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận. 03 đoạn ống hút nhựa màu trắng đã cắt lấy mẫu cùng 0,1325 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 229, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận.
Toàn bộ số vật chứng này hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân quản lý theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng và biên lai thu tiền số 0004612 ngày 12/6/2023.
Tại bản cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 31 tháng 5 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Minh Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Nguyễn Hữu T1, Lê Đình T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Thanh L, Nguyễn Minh Q, Nguyễn Hữu T1, Lê Đình T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và thống nhất với các điều khoản mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân đã viện dẫn trong Cáo trạng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Thanh L, Nguyễn Minh Q, Nguyễn Hữu T1, Lê Đình T; đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù
- Áp dụng: Điểm i Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Q từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù
- Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù
- Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lê Đình T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định của pháp luât.
Tại lời nói sau cùng, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan T1 hành tố tụng và Người T1 hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan T1 hành tố tụng và Người T1 hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T1 hành tố tụng, Người T1 hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thanh L, Nguyễn Minh Q, Nguyễn Hữu T1, Lê Đình T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu; lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Các bị cáo Nguyễn Thanh L, Nguyễn Minh Q, Nguyễn Hữu T1, Lê Đình T nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái, mua bán phép các chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo vẫn cố tình vi phạm, cụ thể:
Vào khoảng 11 giờ 45 phút, Công an xã TH, huyện Hàm Tân tỉnh Bình Thuận bắt quả tang Lê Đình T tàng trữ 0,1510 gam Heroine nhằm mục đích để sử dụng. T khai nhận vừa mua số ma tuý này của Nguyễn Thanh L với giá 280.000đ tại nhà của Nguyễn Minh Q nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Hàm Tân và Công an xã TH đến nhà Nguyễn Minh Q kiểm tra; đồng thời, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thanh L có hành vi tàng trữ 0,1826 gam Heroine nhằm mục đích bán cho người khác; Nguyễn Minh Q có hành vi tàng trữ 0,3581 gam Heroine và 1,4780 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng; Nguyễn Hữu T1 có hành vi tàng trữ 0,1559 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Hành vi tàng trữ khối lượng ma tuý nêu trên của các bị cáo Nguyễn Minh Q, Nguyễn Hữu T1, Lê Đình T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Hành vi tàng trữ 0,1826 gam Heroine nhằm mục đích bán cho người khác và bán cho Lê Đình T 0,1510 gam Heroine để T sử dụng của Nguyễn Thanh L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh L, Nguyễn Minh Q, Nguyễn Hữu T1, Lê Đình T với các tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực ma túy, tạo điều kiện cho tệ nạn xã hội phát triển mà còn gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương; vì vậy, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Bị cáo Lê Đình T có một tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích; bị cáo Nguyễn Minh Q có một tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đã được xóa án tích nên lần phạm tội này của T và Q thể hiện sự xem thường kỷ cương pháp luật; do đó, Hội đồng xét xử cần xử lý bị cáo Lê Đình T và bị cáo Nguyễn Minh Q nghiêm khắc hơn so với bị cáo Nguyễn Thanh L và bi cáo Nguyễn Hữu T1.
Bị cáo Lê Đình T có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc vào trường hợp “Tái phạm”. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Thanh L, Nguyễn Minh Q, Nguyễn Hữu T1, Lê Đình T thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về vật chứng vụ án:
Đối với số tiền 780.000đ thu giữ trên người Nguyễn Thanh L, trong đó: Nguyễn Thanh L bán ma túy cho Lê Đình T được 280.000đ, đây là số tiền L phạm tội mà có nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước. Số tiền 500.000đ không liên quan đến vụ án nên trả lại cho Nguyễn Thanh L.
Đối với số vật chứng, gồm:
- 01 gói nylon đã cắt lấy mẫu cùng 0,1388 gam mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 228/1.
- 01 gói nylon một đầu có khóa kéo viền đỏ và 13 đoạn ống hút nhựa màu trắng đã cắt lấy mẫu cùng 1,4521 gam mẫu M2 và 0,3318 gam mẫu M3 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 228/2.
- 04 đoạn ống hút nhựa màu trắng đã cắt lấy mẫu cùng 0,1540 gam mẫu M4 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 228/3
- 03 đoạn ống hút nhựa màu trắng đã cắt lấy mẫu cùng 0,1325 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 229.
Đây là những vật Nhà nước cấm tàng trữ và không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí, các bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Minh Q, Nguyễn Hữu T1, Lê Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Thanh L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Q 02 (hai) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày 23 tháng 02 năm 2023
- Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Đình T 02 (hai) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày 23 tháng 02 năm 2023
- Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày 23 tháng 02 năm 2023.
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L 02 (hai) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày 23 tháng 02 năm 2023
- Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 280.000đ.
Tịch thu tiêu hủy: 01 gói nylon đã cắt lấy mẫu cùng 0,1388 gam mẫu M1 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 228/1, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận. 01 gói nylon một đầu có khóa kéo viền đỏ và 13 đoạn ống hút nhựa màu trắng đã cắt lấy mẫu cùng 1,4521 gam mẫu M2 và 0,3318 gam mẫu M3 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 228/2, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận. 04 đoạn ống hút nhựa màu trắng đã cắt lấy mẫu cùng 0,1540 gam mẫu M4 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 228/3, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận. 03 đoạn ống hút nhựa màu trắng đã cắt lấy mẫu cùng 0,1325 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 229, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận.
Hoàn trả cho Nguyễn Thanh L 500.000đ.
Toàn bộ số vật chứng này hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân quản lý theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 12/6/2023 và biên lai thu tiền số 0004612 ngày 12/6/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Hàm Tân và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân.
- Căn cứ: Khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q hội.
Các bị cáo mỗi người phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai, báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. * Nơi nhận:
| -VKSND tỉnh; - VKSND, CA huyện Hàm Tân; - Cơ quan THAHS tỉnh Bình Thuận - Nhà tạm giữ CA huyện Hàm Tân - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ; - Chi cục THADS Hàm Tân; - UBND địa phương bị cáo cư trú | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Hữu Tình |