vanban.org

Bản án 35/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đan Phượng, TP. Hà Nội Tuyên án 19/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Viết D 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 04/02/2023.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng Tr 26 (Hai mươi sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án, bị cáo được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 04/02/2023 đến ngày 13/02/2023. Tịch thu tiêu hủy 01 bao gói chứa ma tuý, sau … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Viết D 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 04/02/2023.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐAN PHƯỢNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2023/HS-ST
Ngày: 19 - 5 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Doãn Văn Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Nhật.

Bà Nguyễn Thị Hồ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọt – Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2023/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 5 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Viết D, sinh năm 1993 tại huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn Đình, xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Viết Hùng (đã chết) và bà Nguyễn Quế Hương; vợ, con: Chưa có;

Tiền án: Tại Bản án số 211/2016/HSST ngày 27/10/2016, Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 27 tháng tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật” và tội “Cướp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/12/2017 (chưa được xóa án tích). Tại Bản án số 14/2020/HSST ngày 17/02/2020, Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội xử phạt 42 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/9/2022 (chưa được xóa án tích);

Tiền sự: Không; danh bản, chỉ bản số 056 của Công an huyện Đan Phượng lập ngày 14/02/2023; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/02/2023 đến nay; có mặt.

2. Nguyễn Trọng Tr, sinh năm 1995 tại huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn Tiền Lệ, xã Tiền Yên, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng Dũng và bà Nguyễn Thị Lan; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; danh bản, chỉ bản số 058 của Công an huyện Đan Phượng lập ngày 15/02/2023; bị bắt tạm giữ ngày 04/02/2023 đến ngày 13/02/2023 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay; tạm giam: Không; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Đàm Anh T, sinh năm 1982; nơi cư trú: PA 2102 số 423 phường Minh Khai, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

+ Chị Trần Thị Huyền Tr, sinh năm 2002; nơi cư trú: Thôn Đông, xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội; có mặt.

- Người làm chứng: Anh Lê Văn Thuật, sinh năm 1994; nơi cư trú: Cụm 3, xã Thọ Xuân, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 2 năm 2023, Nguyễn Viết D, sinh năm 1993 ở thôn Đình, xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội đến khu vực đê Tả Đáy, thôn Thống Nhất, xã Song Phượng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội mua nửa chỉ ma túy Ke (Ketamin) và 03 viên ma túy Kẹo (MDMA) của người nam giới (không rõ lai lịch, khoảng 40 tuổi) với giá 3.000.000 đồng, rồi mang về nhà cất giấu nhằm mục đích có ai hỏi mua thì bán. Khoảng 12 giờ 50 phút ngày 04/02/2023, D đang ở nhà thì có số điện thoại 0878269029 của một người nam giới gọi đến số điện thoại 0585562345 của D hỏi mua nửa chỉ ma túy Ke và 03 viên ma túy Kẹo. Hai bên thỏa thuận bán với giá 3.200.000 đồng và hẹn giao ma túy tại khu vực Nhà nghỉ Sao Mai thuộc xã Song Phượng, huyện Đan Phượng. Sau đó, D đi đến nhà Nguyễn Trọng Tr, sinh năm 1995 ở thôn Tiền Lệ, xã Tiền Yên, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội với mục đích rủ Tr đi bán ma túy cho khách. Tại đây, D nói với Tr “đi giao đồ cho khách với tôi”, Tr hiểu là đi bán ma túy cho khách nên đồng ý. D lấy xe máy Piaggio Liberty, biển kiểm soát 29L1-258.94 của Tr và chở Tr đi giao ma túy. Trên đường đi, D đưa cho Tr nửa chỉ ma túy Ke và 03 viên ma túy Kẹo, thống nhất giao cho khách với giá 3.200.000 đồng. Tr cầm ma túy ở tay phải. Khi D điều khiển chiếc xe máy trên cùng Tr đến địa điểm đã hẹn nhưng chưa kịp giao ma túy và nhận tiền thì bị Công an xã Thọ Xuân, huyện Đan Phượng bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng gồm: 01 túi nilong màu trắng kích thước (5x3) cm bên trong có chứa 03 viên nén màu tím hình ngũ giác, một mặt in hình đầu lâu và 01 túi nilong màu trắng kích thước (2x2) cm bên trong có chứa các tinh thể màu trắng; 01 xe máy nhãn hiệu Piaggio màu trắng, biển kiểm soát 29L1-258.94 và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh, bên trong có số thuê bao 0585562345.

Tại Kết luật giám định số 758/KL-KTHS ngày 13/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội, kết luận: 03 viên nén hình ngũ giác màu tím, một mặt có in hình đầu lâu bên trong 01 túi nilông đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 1,522 gam; Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông là ma túy loại Ketamine, khối lượng 0,772 gam.

Bản Cáo trạng số 35/CT-VKS-ĐP ngày 25 tháng 4 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Viết D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, truy tố bị cáo Nguyễn Trọng Tr về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Viết D và Nguyễn Trọng Tr khai nhận hành vi đã thực hiện như nội dung nêu trên. Các bị cáo cũng trình bày đã nhận thức việc làm của mình là sai pháp luật nên đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị Huyền Tr trình bày nguồn gốc chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 màu xanh, bị cáo D sử dụng để liên hệ trong việc mua bán ma túy là của chị Trang cho D mượn để sử dụng. Chị Trang không biết bị cáo D sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho chị Trang chiếc điện thoại nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng tại phiên tòa, giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Nguyễn Viết D, Nguyễn Trong Tr về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo D từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Tr từ 26 tháng tù đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy đã niêm phong sau giám định; trả lại chị Trần Thị Huyền Tr 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 màu xanh; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Piaggio màu trắng, biển kiểm soát 29L1-258.94 của Nguyễn Trọng Tr.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Viết D và Nguyễn Trọng Tr đã thành khẩn khai nhận hành vi của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, được chứng minh bằng lời khai người làm chứng, vật chứng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 12 giờ 50 phút ngày 04/02/2023, Nguyễn Viết D điều khiển xe máy nhãn hiệu Piaggio Liberty màu trắng, biển kiểm soát 29L1-25894 chở theo Nguyễn Trọng Tr đến khu vực Nhà nghỉ Sao Mai thuộc xã Song Phượng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội để bán 03 viên ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 1,522 gam và 01 túi nilong ma túy loại Ketamine, khối lượng 0,772 gam cho người nam giới giới (không rõ lai lịch) có số điện thoại 0878269029 với giá 3.200.000 đồng. Khi D và Tr chưa kịp bán ma túy và nhận tiền thì bị Công an xã Thọ Xuân, huyện Đan Phượng phát hiện bắt giữ và thu toàn bộ số ma túy trên.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Viết D đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Bị cáo D đã có 02 tiền án thuộc Tr hợp tái phạm chưa được xóa án nay lại tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này của bị cáo là “tái phạm nguy hiểm” theo qui định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Trọng Tr khi được D rủ đi thì Tr biết việc D đi bán ma túy, Tr đồng ý đi bán ma túy cùng D nên hành vi của Tr đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo qui định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn trong bản cáo trạng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Bởi lẽ, ma túy có tác hại rất lớn đối với sức khỏe của người sử dụng, nó còn là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc phát sinh tội phạm hình sự và tệ nạn xã hội. Các bị cáo đều nhận thức được tác hại của ma túy đối với người sử dụng, đối với xã hội nhưng vì lợi ích cá nhân và do coi thường pháp luật nên dẫn đến phạm tội. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Trong vụ án thì bị cáo D có vai trò chính, còn bị cáo Tr là người bị D rủ rê phạm tội. Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Tr có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

Theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự thì ngoài hình phạt chính còn quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền, xét thấy các bị cáo Nguyễn Viết D và Nguyễn Trọng Tr đều là lao động tự do không có điều kiện về kinh tế và thu nhập ổn định để đảm bảo cho việc thi hành án nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

Bị cáo Nguyễn Viết D khai nguồn gốc số ma túy trên là do D mua của một người nam giới không quen biết khoảng 40 tuổi ở khu vực đê Tả Đáy, thôn Thống Nhất, xã Song Phượng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội; mục đích D và Tr mang số ma túy đi bán cho người nam giới có số điện thoại 0878269029 tại khu vực Nhà nghỉ Sao Mai thuộc xã Song Phượng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội nhưng chưa kịp bán ma túy và nhận tiền thì bị bắt giữ. Quá trình điều tra, cơ quan Công an đã điều tra để xác định những người trên nhưng ngoài lời khai của D và Tr thì không còn tài liệu khác chứng minh nên không có căn cứ để xử lý.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra thu giữ số ma túy, sau khi giám định đã được niêm phong trong 01 bao gói, do không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Piaggio Liberty màu trắng, biển kiểm soát 29L1-25894 là tài sản của Nguyễn Trọng Tr mua lại. Chiếc xe đăng ký tên chủ sở hữu là anh Đàm Anh T, sinh năm 1982; nơi cư trú: PA 2102 số 423 phường Minh Khai, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Quá trình điều tra, anh Tú xác nhận có đăng ký chiếc xe như trên nhưng anh đã bán lại cho người khác, không biết là ai. Cơ quan điều tra đã tiến hành tra cứu, kết quả xác định chiếc xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Do bị cáo Tr và D sử dụng chiếc xe vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Về 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh, bên trong lắp sim số 0585562345. Bị cáo D khai mượn chiếc điện thoại trên của chị Trần Thị Huyền Tr, sinh năm 2002; nơi cư trú: Thôn Đông, xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội và lắp sim vào để sử dụng liên lạc trong việc bán ma túy. Quá trình điều tra và tại phiên tòa chị Trang xác nhận có cho bị cáo D mượn chiếc điện thoại nêu trên, bị cáo D sử dụng chiếc điện thoại vào việc mua bán ma túy thì chị Trang không biết nên trả lại cho chị Trang chiếc điện thoại là phù hợp. Chiếc sim số 0585562345 lắp trong diện thoại là của bị cáo D nên tịch thu tiêu hủy.

Án phí, quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Viết D và Nguyễn Trọng Tr phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Nguyễn Viết D, Nguyễn Trọng Tr và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Viết D 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 04/02/2023.

2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng Tr 26 (Hai mươi sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án, bị cáo được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 04/02/2023 đến ngày 13/02/2023.

3. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 bao gói chứa ma tuý, sau khi giám định đã được Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội niêm phong và 01 chiếc sim điện thoại số thuê bao 0585562345.

+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu Piaggio Liberty màu trắng đã qua sử dụng, biển kiểm soát 29L1-25894, số khung: RP8M73100CV110864, số máy: M731M-4045608 của Nguyễn Trọng Tr.

+ Trả lại chị Trần Thị Huyền Tr 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh đã qua sử dụng (Vật chứng hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng, theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/5/2023 với Công an huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội).

4. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Nguyễn Viết D và Nguyễn Trọng Tr, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo Nguyễn Viết D và Nguyễn Trọng Tr có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong Tr hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ