- Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Văn Tr + đp - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Đặng Văn K. Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2023/HS-ST ngày 22 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo kể từ ngày 07/9/2023
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2023/HS - PT. Ngày 07 - 9 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Vinh.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thanh Hương và ông Ma Ngọc Trung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 55/2023/TLPT-HS ngày 31 tháng 7 năm 2023 đối với các bị cáo Triệu Văn T, Đặng Văn K, Bàn Văn H và Đặng Văn T do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2023/HS-ST ngày 22 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.
Bị cáo có kháng cáo:
1. Triệu Văn T; Sinh ngày 16/8/1992 tại tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Thôn Thác Vàng, xã Minh Dân, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; con ông Triệu Văn B và bà Đặng Thị X; có vợ là Đặng Thị Đ và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 14/01/2014, Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 06/02/2018 Công an huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền 1.200.000 đồng) về hành vi “Đánh bạc” (đã nộp phạt ngày 07/02/2018).
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
2. Đặng Văn K; Sinh ngày 01/7/1985 tại tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Thôn Ngòi Họp, xã Minh KH, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 5/12; con ông Đặng Văn T và bà Bàn Thị N; có vợ là Lý Thị A và 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 27/11/2022 Công an huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền 1.250.000 đồng) về hành vi “Đánh bạc” (đã nộp phạt ngày 29/11/2022); nhân thân: Ngày 27/12/2018 Phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền 1.500.000 đồng) về hành vi “Đánh bạc” (đã nộp phạt ngày 04/01/2019).
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Vắng mặt.
3. Bàn Văn H; Sinh ngày 10/7/1973 tại tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Thôn Thác Cái, xã Minh KH, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 0/12; con ông Bàn Văn S và bà Lý Thị D; có vợ là Tướng Thị Â và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 05/6/2015 Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 03 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc” (chấp hành xong 22/7/2019).
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
4. Đặng Văn T; Sinh ngày 16/10/1995 tại tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Thôn Thăm Bon, xã Minh KH, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 09/12; con ông Đặng Văn Q và bà Tướng Thị N; có vợ là Lý Thị M và 02 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 02 bị cáo và 01 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 23/01/2023 (tức ngày mùng 02 tết âm lịch), Trần Văn B đi chúc tết, khi đi đến quán bán đồ ăn sáng của anh Đặng Văn H thì thấy có Đặng Văn K; Lý Văn T, Đặng Văn Đ, Triệu Văn T, Bàn Văn H đang ngồi ở khu vực bàn uống nước tại sân xi măng trước cửa quán (quán đóng cửa). Đến khoảng 13 giờ cùng ngày thấy có bộ bài tú lơ khơ đang để trên bàn uống nước, B rủ mọi người đánh bạc bằng hình thức đánh “Sâm”, những người có mặt đồng ý, riêng Đặng Văn Đ không chơi mà đi chúc tết, 05 người tham gia đánh Sâm gồm: Trần Văn B, Đặng Văn K, Lý Văn Tạo, Triệu Văn T, Bàn Văn H.
* Vai trò, số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc bằng hình thức đánh “Sâm” cụ thể như sau:
- Trần Văn B là người khởi sướng, rủ rê, mọi người đánh bạc và sử dụng 2.000.000 đồng, chơi nhiều ván. Khi kết thúc việc đánh bạc thua còn 1.500.000 đồng.
- Lý Văn T sử dụng 2.400.000 đồng, chơi nhiều ván. Khi kết thúc việc đánh bạc không thắng, không thua còn 2.400.000 đồng.
- Triệu Văn T sử dụng 4.100.000 đồng để đánh bạc, đánh nhiều ván. Khi kết thúc việc đánh bạc thua còn 3.700.000 đồng.
- Đặng Văn K sử dụng 400.000 đồng, chơi nhiều ván. Khi kết thúc việc đánh bạc thắng có 1.200.000 đồng.
- Bàn Văn H sử dụng 280.000 đồng để đánh bạc. Khi kết thúc việc đánh bạc thắng có 380.000 đồng.
Cả 05 người đánh “Sâm” đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày thì Lý Văn T nói: “Ngày tết bao nhiêu người đứng xem, bỏ hội này đi làm tí “Ba cây” cho nó vui” (tức là chuyển sang đánh bạc bằng hình thức đánh Ba cây), mọi người đồng ý, lúc này Bàn Văn H không đánh “Ba cây” và đi về, những người đánh “Ba cây” gồm có: Trần Văn B, Lý Văn Tạo, Triệu Văn T, Đặng Văn K, tiếp tục sử dụng số tiền còn khi kết thúc đánh “Sâm” để đánh “Ba cây”, đánh được khoảng 30 phút thì có Đặng Văn T sinh năm 1995, trú tại thôn Thăm Bon, xã Minh KH, huyện Hàm Yên đến và cùng tham gia đánh bạc. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì kết thúc việc đánh bạc.
* Vai trò, số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc bằng hình thức đánh “Ba cây” như sau:
- Trần Văn B sử dụng 1.500.000 đồng và bị thua hết. Sau đó vay của T 10.000.000 đồng (chia làm 02 lần, mỗi lần vay 5.000.000 đồng) bằng hình thức là cầm cố chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Air Blade, mang biển kiểm soát 22B1-578.99 của gia đình cho Triệu Văn T (số tiền cho B vay là do quá trình đánh bạc của T thắng mà có), khi kết thúc thua còn 3.000.000 đồng.
- Lý Văn T là người khởi sướng, rủ rê, mọi người đánh bạc từ hình thức đánh “Sâm” sang hình thức đánh “Ba cây” và sử dụng 2.400.000 đồng, chơi nhiều ván. Khi kết thúc việc đánh bạc, bị can thua hết tiền.
- Triệu Văn T sử dụng 3.700.000 đồng, chơi nhiều ván thắng bạc và có hành vi giúp sức cho Trần Văn B (cho B vay 10.000.000 đồng và nhận cầm cố chiếc xe mô tô của B để B sử dụng tiền để T tục đánh bạc). Khi kết thúc việc đánh bạc còn 3.400.000 đồng.
- Đặng Văn K sử dụng 1.200.000 đồng, chơi nhiều ván. Khi kết thúc việc đánh bạc không thắng, không thua còn 1.200.000 đồng.
- Đặng Văn T, sử dụng 1.000.000 đồng, chơi nhiều ván. Khi kết thúc việc đánh bạc, bị cáo thắng có tổng cộng 2.200.000 đồng.
* Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 20.180.000đ (Hai mươi triệu một trăm tám mươi nghìn đồng).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2023/HS-ST ngày 22 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang đã quyết định:
- Tuyên bố: Các bị cáo Triệu Văn T, Đặng Văn K, Bàn Văn H và Đặng Văn T, phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.
+ Xử phạt bị cáo Triệu Văn T 8 (Tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.
+ Xử phạt bị cáo Đặng Văn K 7 (Bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.
+ Xử phạt bị cáo Bàn Văn H 6 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.
+ Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 6 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với 01 bị cáo Trần Văn B, Lý Văn Tạo, quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 04 tháng 7 năm 2023, bị cáo Triệu Văn T, Bàn Văn H, Đặng Văn T và Đặng Văn K có đơn kháng cáo với nội dung xin hưởng án treo.
Trước khi mở phiên tòa bị cáo Đặng Văn K có đơn xin rút toàn bộ nội dung đơn kháng cáo. Tại phiên tòa các bị cáo Triệu Văn T, Bàn Văn H và Đặng Văn T giữ nguyên nội dung kháng cáo xin hưởng án treo.
Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng đảm bảo đúng quy định pháp luật; đơn kháng cáo của các bị cáo hợp lệ trong hạn luật định; thủ tục giải quyết vụ án đúng trình tự tố tụng.
- Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá vai trò, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt các bị cáo Triệu Văn T 08 tháng tù, bị cáo Đặng Văn K 07 tháng tù; bị cáo Bàn Văn H và Đặng Văn T mỗi bị cáo 06 tháng tù về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, đúng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
Trước khi mở phiên tòa bị cáo Đặng Văn K có đơn xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo, xét thấy việc rút kháng cáo của bị cáo là tự nguyện, không bị ép buộc. Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ khoản 1 Điều 342 và Điều 348; điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Đặng Văn K, Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2023/HS-ST ngày 22 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo Đặng Văn K.
Các bị cáo Triệu Văn T; Bàn Văn H; Đặng Văn T xuất trình đơn xin hưởng án treo có xác nhận của chính quyền địa pH, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng (bị cáo Đặng Văn T phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng) và xét tính chất mức độ phạm tội của bị cáo thấy không cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cho các bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Đề nghị Hội đồng xét căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Triệu Văn T, Bàn Văn H và Đặng Văn T, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 41/2023/HS-ST ngày 22 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang về phần hình phạt đối với các bị cáo như sau:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự; (áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đặng Văn T):
Xử phạt bị cáo Triệu Văn T 08 (Tám) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách 01 (một) năm 04 (bốn) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (07/9/2023).
Xử phạt bị cáo Bàn Văn H 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách 01 (một) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (07/9/2023).
Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách 01 (một) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (07/9/2023).
Giao bị cáo Triệu Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Minh Dân, giao bị cáo Bàn Văn H và Đặng Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Minh Khương huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang nơi các bị cáo cư trú, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Về án phí: Các bị cáo Đặng Văn K, Đặng Văn T, Triệu Văn T và Bàn Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Ghi nhận các bị cáo Triệu Văn T và Bàn Văn H đã nộp án phí hình sự sơ thẩm .
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo Triệu Văn T, Bàn Văn H và Đặng Văn T không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Khi được Hội đồng xét xử cho phép nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cho các bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ, đúng pháp luật; trình tự, thủ tục giải quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng quy định. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo T tục thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm. Do vậy, có đủ căn cứ xác định: Trong khoảng thời gian từ 13 giờ đến 16 giờ ngày 23/01/2023, tại quán bán hàng của anh Đặng Văn H, thuộc thôn Ngòi Họp, xã Minh KH, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Các bị cáo Trần Văn B, Lý Văn Tạo, Triệu Văn T, Đặng Văn K, Bàn Văn H và Đặng Văn T đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh “Sâm” và đánh “Ba cây” cá cược được thua bằng tiền Việt Nam đồng. Trong đó: Trần Văn B là người khởi sướng, rủ rê mọi người đánh bạc bằng hình thức đánh Sâm và sử dụng 12.000.000 đồng (vay của T 10.000.000 đồng) để đánh bạc (đánh Sâm và đánh Ba cây); Lý Văn Tạo là người khởi sướng, rủ rê mọi người đánh bạc bằng hình thức đánh Ba cây và sử dụng 2.400.000 đồng để đánh bạc (đánh Sâm và đánh Ba cây); Triệu Văn T sử dụng 4.100.000 đồng để đánh bạc (đánh Sâm và đánh Ba cây), giúp sức cho Trần Văn B sử dụng 10.000.000 đồng để đánh bạc; Đặng Văn K sử dụng 400.000 đồng để đánh bạc (đánh Sâm và đánh Ba cây); Bàn Văn H sử dụng 280.000 đồng để đánh bạc (đánh Sâm); Đặng Văn T, sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc (đánh Ba cây). Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 20.180.000đ (Hai mươi triệu một trăm tám mươi nghìn đồng). Toà án nhân dân huyện Hàm Yên xét xử các bị cáo về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Đặng Văn K vắng mặt nhưng có đơn xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo trước khi mở phiên tòa, xét thấy việc rút kháng cáo của bị cáo là tự nguyện, không bị ép buộc. Hội đồng xét xử, căn cứ khoản 1 Điều 342 và Điều 348; điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Đặng Văn K, Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2023/HS-ST ngày 22 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo Đặng Văn K.
Đối với kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Triệu Văn T, Đặng Văn T và Bàn Văn H, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại cấp phúc thẩm các bị cáo xuất trình đơn xin hưởng án treo có xác nhận của chính quyền địa phương, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; sau khi xét xử sơ thẩm các bị cáo T, H đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm tuy không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng cũng thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của các bị cáo; các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tham gia phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn, có nơi cư trú rõ ràng và việc cho các bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do vậy đề nghị của Viện kiểm sát giữ nguyên hình phạt tù và cho các bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ, cần chấp nhận.
Về án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Ghi nhận các bị cáo Đặng Văn T và Bàn Văn H đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 342 và Điều 348; điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Đặng Văn K. Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2023/HS-ST ngày 22 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo kể từ ngày 07/9/2023
2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Triệu Văn T, Bàn Văn H và Đặng Văn T, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2023/HS-ST ngày 22 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang về hình phạt đối với các bị cáo như sau:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự; (áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đặng Văn T).
Xử phạt bị cáo Triệu Văn T 08 (Tám) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách 01 (một) năm 04 (bốn) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (07/9/2023).
Xử phạt bị cáo Bàn Văn H 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách 01 (một) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (07/9/2023).
Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách 01 (một) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (07/9/2023).
Giao bị cáo Triệu Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Minh Dân, giao bị cáo Bàn Văn H và Đặng Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Minh Khương, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang nơi các bị cáo cư trú, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trường hợp các bị cáo Triệu Văn T, Đặng Văn T và Bàn Văn H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo Triệu Văn T, Đặng Văn T và Bàn Văn H cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo Đặng Văn K, Đặng Văn T, Triệu Văn T và Bàn Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Ghi nhận bị cáo Triệu Văn T đã nộp án phí hình sự sơ thẩm tại B lai thu tiền lập ngày 10/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang (B lai số AA/2021/0002136). Ghi nhận bị cáo Bàn Văn H đã nộp án phí hình sự sơ thẩm tại B lai thu tiền lập ngày 03/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang (B lai số AA/2021/0001405).
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (07/9/2023)./.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh T.Quang; - Phòng hồ sơ Công an tỉnh TQuang; - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang; - TAND + VKSND huyện Hàm Yên; - Chi cục THADS huyện Hàm Yên; - CQCSĐT Công an huyện Hàm Yên; - Bị cáo; - Văn phòng TAND tỉnh; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Tuấn Vinh |