- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận y u cầu khởi ki n của bà Nguyễn Th Thúy K.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 35/2023/HNGĐ-ST Ngày: 21-3-2023 V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN,TỈNH AN
GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: B Đ ng Th Di u Ti n.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông L Th nh Thật.
- Ông Trần Ngọc To n.
Thư ký phiên tòa: B Lý Ngọc Dung – Thư ký Tòa án nhân dân th nh phố Long Xuy n, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 21 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân th nh phố Long Xuy n xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 55/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 77/2023/QĐST-HNGĐ ng y 27 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Th Thúy K, sinh năm 1986. (Có m t)
Đ a chỉ: số 721B/10, khóm Đ, phường X, th nh phố X, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: ông Huỳnh Đại B, sinh năm 1986. (Có m t)
Đ a chỉ: số 721B/10, khóm Đ, phường X, th nh phố X, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy K trình bày: bà và ông B quen biết, tìm hiểu v đi đến hôn nhân v o năm 2009, vợ chồng có tổ chức lễ cưới v đăng ký kết hôn theo quy đ nh pháp luật. Thời gian chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn do ông B nợ nần v bỏ đi, bà phải vay mượn của bạn bè để trả nợ cho ông B. Sau đó vợ chồng h n gắn tình cảm đến khoảng năm 2020 thì tiếp tục phát sinh mâu thuẫn do ông B tiếp tục nợ nần, ông B nói với b do l m ăn thua lỗ, từ đó vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, ông B không lo chi phí sinh hoạt trong gia đình, b phải tự lo cuộc sống cho 02 con chung. Tháng 12/2022 ông B tiếp tục nợ tiền của người khác, mâu thuẫn nghi m trọng n n vợ chồng không còn chung sống với nhau cho đến nay. Trong thời gian ông B bỏ đi vì nợ nần còn thường xuy n nhắn tin đe dọa, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của b . Bà đã cung cấp cho Tòa án các tin nhắn zalo ông B nhắn cho b với những lời lẽ xúc phạm n n b không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân với ông B, m t khác ông B còn đe dọa đưa clip nóng l n mạng l cảnh quan h vợ chồng trong khi b l người đang đi l m, điều n y ảnh hưởng đến cuộc sống v công vi c của b rất nhiều nên bà ch n zalo của ông B. Trước đây bà đã l m đơn khởi ki n y u cầu ly hôn sau đó b rút đơn khởi ki n nhưng nhận thấy không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân. Nay tình cảm không còn, hôn nhân không hạnh phúc v không thể h n gắn tình cảm n n bà y u cầu ly hôn với ông B.
- Về con chung: có 02 con chung tên Huỳnh Nguyễn Phương N, sinh ngày 23/02/2011 và Huỳnh Đại P, sinh ngày 01/12/2018. Sau khi ly hôn, bà y u cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Hi n nay, b l m ở nh sách Fahasa ở Vincom mỗi tháng thu nhập khoảng 8.000.000 đồng đủ khả năng nuôi con n n không y u cầu cấp dưỡng.
- Về tài sản chung: không có, không y u cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không có. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Huỳnh Đại B trình bày: Ông thống nhất nội dung trình b y của bà K về quan h hôn nhân, về thời điểm kết hôn. Về nguy n nhân mâu thuẫn vợ ông trình bày l đúng, trước đây ông có nợ nần v bỏ đi năm 2016, sau đó 02 vợ chồng h n gắn v có th m 01 đứa con trai năm 2018, đến năm 2020 thì ông tiếp tục nợ nần do không có vốn nh , phải đi vay tiền lãi cao do cha ông b b nh n ng v o năm 2020 đến cuối năm 2020 b tai nạn v mất, ông tốn tiền lo cho ba, nghỉ vi c không có thu nhập do ảnh hưởng của đại d ch tình hình buôn bán khó khăn n n ông thiếu nợ nhưng vợ chồng vẫn còn chung sống với nhau. Đến ng y 18/12/2022 bà K kêu ông đi xa 01 thời gian để lánh nợ rồi qua tết hãy về đến ng y 24/12/2022 ông quay về nh để khắc phục chuy n nợ nần v h n gắn tình cảm thì bà K cũng đồng ý. Tuy nhi n, đến sáng hôm sau thì bà K thay đổi ý kiến v không đồng ý. Sau đó y u cầu ông phải ký đơn ly hôn nhưng ông không đồng ý. Từ ng y 25/12/2022 vợ chồng không còn chung sống với nhau. Những tin nhắn zalo m bà K cung cấp cho Tòa án không phải tin nhắn của ông gửi cho bà K, ông không Bết những tin nhắn đó của ai gửi. Ngày 31/01/2023 bà K đồng ý tha lỗi v về nh chung sống với nhau, đến ngày 06/02/2023 bà K lại đổi ý đòi ly hôn. Ng y 06/02/2023, bà K tiếp tục đi n thoại, hẹn uống c ph v k u ông về xin lỗi ba mẹ vợ, ông có về nh cha mẹ vợ xin lỗi nhưng không được. Ng y 17/01/2023, bà K nhắn cho ông số đi n thoại của dì Bảy kêu ông gọi đi n thoại cho dì Bảy nhờ dì Bảy nói chuy n tiếp với ba mẹ vợ dùm ông nhưng ông không thực hi n.
Ông không đồng ý ly hôn do ông vẫn còn y u thương vợ con và vi c bà K y u cầu ly hôn l do sự tác động của gia đình vợ chứ thực tế bà K không có ý đ nh ly hôn với ông vì trước ng y xét xử 10 ng y bà K có hẹn ông ra quán c ph v đề ngh ông về xin lỗi cha mẹ vợ rồi h n gắn tình cảm vợ chồng về tiếp tục chung sống với nhau.
Về con chung: có 02 con chung t n Huỳnh Nguyễn Phương N, sinh ngày 23/02/2011 và Huỳnh Đại P, sinh ngày 01/12/2018. Sau khi ly hôn, ông thống nhất với y u cầu của bà K, đồng ý để bà K trực tiếp nuôi dưỡng con chung, ông không cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về t i sản chung: không có, không y u cầu Tòa án giải quyết
- Về nợ chung: không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghi n cứu các t i li u có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phi n tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh:
- Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Th Thúy K y u cầu ly hôn với ông Huỳnh Đại B. Ông B có nơi cư trú tại phường X, th nh phố X, tỉnh An Giang. N n Tòa án nhân dân th nh phố Long Xuy n thụ lý giải quyết l đúng thẩm quyền được quy đ nh tại các Điều 28, 35 v Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
Về quan h hôn nhân: Bà Nguyễn Th Thúy K và ông Huỳnh Đại B xác lập quan h vợ chồng v chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy đ nh của pháp luật n n hôn nhân của ông, b được pháp luật thừa nhận v bảo v . Khi vợ chồng chung sống thì phát sinh mâu thuẫn nghi m trọng do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn về tiền bạc, ông B nợ nần người khác v bỏ đi, trong thời gian bỏ đi ông B nhắn tin xúc phạm đe dọa tinh thần của bà K, bà K cũng đã nhiều lần hàn gắn tình cảm v tiếp tục chung sống với ông B nhưng mâu thuẫn không giải quyết được. Bà K xác đ nh không còn tình cảm với ông B, hôn nhân không hạnh phúc nên bà vẫn cương quyết y u cầu ly hôn. Ông B không đồng ý ly hôn do ông vẫn còn y u thương vợ con v muốn h n gắn tình cảm.
Bà K và ông B cùng trình b y thống nhất vi c ông B có nợ tiền người khác v bỏ đi nhiều lần, gây ra tình trạng khó khăn về kinh tế trong gia đình, điều n y gây ra mâu thuẫn nghi m trọng giữa bà K và ông B. Hội đồng xét xử nhận thấy, hôn nhân phải tr n cơ sở tự nguy n, giữa vợ v chồng phải có nghĩa vụ y u thương, quan tâm, tôn trọng v cùng nhau chăm lo cho cuộc sống gia đình. Tuy nhi n, giữa bà K và ông B đã phát sinh mâu thuẫn nghi m trọng xuất phát từ vi c ông B nợ tiền người khác v bỏ đi, bà K phải trực tiếp đứng ra trả nợ v chăm lo cuộc sống cho 02 con chung, hi n nay bà K xác đ nh không thể tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân. M t khác, bà K cũng đã từng nộp đơn khởi ki n y u cầu ly hôn và vợ chồng đã h n gắn tình cảm nhiều lần nhưng mâu thuẫn không giải quyết được, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận y u cầu ly hôn của bà K l phù hợp với quy đ nh tại Điều 56 Luật hôn nhân v gia đình năm 2014. [2] Về con chung: có 02 con chung tên Huỳnh Nguyễn Phương N, sinh ngày 23/02/2011 và Huỳnh Đại P, sinh ngày 01/12/2018. Xét thấy, từ khi bà K và ông B không còn chung sống với nhau thì cháu N và cháu P sống với bà K cho đến nay, các cháu đã ổn đ nh về chỗ ở và điều ki n sinh hoạt, bà K hi n đang có công vi c ổn đ nh với mức thu nhập hằng tháng 8.000.000 đồng đảm bảo các điều ki n cần thiết cho vi c nuôi dưỡng cháu N, cháu P, m t khác tại bi n bản ghi ý kiến con chung ng y 27/02/2023 cháu Nghi có nguy n vọng được sống với mẹ, ông B cũng đồng ý để bà K được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn đ nh cho các cháu, Hội đồng xét xử quyết đ nh giao cháu N, cháu P cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục l phù hợp với quy đ nh tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân v gia đình năm 2014. [3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: do bà K không có y u cầu n n ông B không phải cấp dưỡng nuôi con chung. [4] Về t i sản chung, nợ chung: ghi nhận ý kiến của bà K và ông B trình bày không có n n không đề cập giải quyết. [5] Về án phí: bà K phải ch u án phí sơ thẩm theo quy đ nh pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- Điều 28, 35, 39, 144, 147, 235, 271, 273, 278 v Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 v Điều 84 Luật hôn nhân v gia đình 2014.
- Điều 27 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý v sử dụng án phí v l phí Tòa án. Tuy n xử:
- Chấp nhận y u cầu khởi ki n của bà Nguyễn Th Thúy K.
- Về quan h hôn nhân: Bà Nguyễn Th Thúy K được ly hôn với ông Huỳnh Đại B. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 60/ĐX, ngày 29/7/2009 do UBND phường Đông Xuy n, th nh phố Long Xuy n, tỉnh An Giang cấp không còn giá tr pháp lý.
- Về con chung: Bà Nguyễn Th Thúy K được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung tên Huỳnh Nguyễn Phương N, sinh ngày 23/02/2011 và Huỳnh Đại P, sinh ngày 01/12/2018. Ông Huỳnh Đại B không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bà Nguyễn Th Thúy K cùng các th nh vi n gia đình (nếu có) không được cản trở ông Huỳnh Đại B trong vi c thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Ông Huỳnh Đại B không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng ông có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc v giáo dục con chung, không ai được ngăn cản ông B thực hi n quyền n y.
Vì lợi ích của con, theo y u cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, To án có thể quyết đ nh thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa tr n các căn cứ do pháp luật quy đ nh.
- Về t i sản chung: không xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: ghi nhận bà Nguyễn Th Thúy K và ông Huỳnh Đại B xác đ nh không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hi u lực pháp luật nếu có nguy n đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì bà Nguyễn Th Thúy K và ông Huỳnh Đại B vẫn phải li n đới ch u trách nhi m với tư cách b đơn trong vụ án dân sự khác.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Th Thúy K phải ch u 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ v o tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001298 ngày 07/02/2023 của Chi cục Thi h nh án dân sự th nh phố Long Xuy n, tỉnh An Giang. Bà K đã nộp xong.
Nguy n đơn bà Nguyễn Th Thúy K, b đơn ông Huỳnh Đại B được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ng y kể từ ng y tuy n án.
Trường hợp bản án được thi h nh theo quy đ nh tại Điều 2 Luật thi h nh án dân sự thì người được thi h nh án dân sự, người phải thi h nh án dân sự có quyền thỏa thuận thi h nh án, quyền y u cầu thi h nh án, tự nguy n thi h nh án ho c b cưỡng chế thi h nh án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7, 7a, 7b v Điều 9 Luật Thi h nh án dân sự; thời hi u thi h nh án được thực hi n theo quy đ nh tại Điều 30 Luật Thi h nh án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND TPLX; - TAND tỉnh An Giang; - Chi cục THADS TPLX; - Lưu hồ sơ; - Lưu VP (6). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đ n Th Di Tiên |