vanban.org

Bản án 35/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1, Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Vũ Đăng B.

Anh Vũ Đăng B ly hôn với chị Phạm Hà Thu H. 2, Về con chung: Anh Vũ Đăng B và chị Phạm Hà Thu H có 02 (hai) con chung là Vũ Khánh V, sinh ngày 28/01/2008 và Vũ Trúc L, sinh ngày 19/12/2011. Giao hai con chung cho chị Phạm Hà Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 1, Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Vũ Đăng B.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 35/2023/HNGĐ-ST

Ngày 16 tháng 01 năm 2023 V/v Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Lai.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phùng Ngọc Toàn

2. Bà Nguyễn Thị Lan Ka

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đồng Minh Hoàn - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa:

Bà Bùi Mai PH - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 782/2022/TL-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp Hôn nhân và Gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 331/2022/QĐXX-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 346/2022/QĐST- HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2022 giữa:

Nguyên đơn: Anh Vũ Đăng B, sinh năm 1979; HKTT: Số 15 ngách 575/29 phố Kim Mã, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Số 2 ngách 01 ngõ 10 phố Hoàng Ngọc Phách, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

Bị đơn: Chị Phạm Hà Thu H, sinh năm 1983; HKTT : Số 15 ngách 575/29 phố Kim Mã, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Số 2 ngách 575/27 phố Kim Mã, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

(Anh B có mặt, chị H vắng mặt).

NHẬN THẤY:

Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn là anh Vũ Đăng B trình bày:

Anh và chị Phạm Hà Thu H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội ngày 30/01/2007.

Trong quá trình chung sống vợ chồng anh chị không đồng quan điểm sống, không hòa hợp, vợ chồng thường xuyên cãi nhau dù đã cố gắng hạn chế để không làm ảnh hưởng đến tâm lý của các con. Mặt khác, anh và chị H đã ly thân từ tháng 04/2021 đến nay. Anh và chị H đã nộp đơn thuận tình ly hôn đến Tòa án một lần để chấm dứt cuộc hôn nhân, tuy nhiên do chị H bị bệnh phải phẫu thuật nên anh đã đồng ý rút đơn để chờ chị H ổn định sức khỏe thì hai vợ chồng mới tiếp tục giải quyết ly hôn. Đến thời điểm hiện tại, anh xác định không còn tình cảm vợ chồng với chị H, anh và chị H không thể đoàn tụ nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H.

Về con chung: Vợ chồng anh có 02 con chung là Vũ Khánh V, sinh ngày 28/01/2008 và Vũ Trúc L, sinh ngày 19/12/2011. Khi ly hôn, anh đề nghị được trực tiếp chăm sóc cả hai con chung và không yêu cầu chị H đóng góp tiền nuôi con chung. Tuy nhiên, sau khi chị H nộp văn bản ghi ý kiến cho Tòa án với nội dung chị H muốn nuôi cả hai con chung thì anh cũng đồng ý giao hai con chung cho chị H nuôi dưỡng, anh đóng góp tiền nuôi con chung là 10.000.000 đồng/tháng / 02 con.

Về tài sản và nhà ở: Vợ chồng anh tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ: Anh và chị H không vay nợ ai, không cho ai vay. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại các Văn bản ghi ý kiến đề ngày 12/11/2022 và ngày 01/12/2022 gửi Tòa án nhân dân quận Ba Đình, bị đơn là chị Phạm Hà Thu H trình bày:

Chị và anh B là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký hôn tại UBND phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội ngày 30/01/2007. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì. Khoảng tháng 5 năm 2022, chị phát hiện bị K vú nên đang điều tại bệnh viện K, anh B xin ly hôn đơn pH chị rất bất ngờ vì vợ chồng không có mâu thuẫn gì. Nay anh B xin ly hôn chị không đồng ý vì hiện tại chị đang gặp vấn đề về sức khỏe và đang trong quá trình điều trị bệnh, chị không muốn cuộc sống bị xáo trộn, muốn con cái được sống vui vẻ, hạnh phúc bên bố mẹ. Đề nghị Tòa án bác yêu cầu xin ly hôn của anh B.

Về con chung: Chị và anh B có 02 con chung là Vũ Khánh V, sinh ngày 28/01/2008 và Vũ Trúc L, sinh ngày 19/12/2011. Trong trường hợp phải ly hôn trong lúc chị bệnh tật thì chị có nguyện vọng được nuôi cả hai con chung và yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con theo pháp luật. Tuy nhiên, hiện nay chị đang trong giai đoạn điều trị bệnh và bệnh của chị mới ở giai đoạn đầu nên khả năng điều trị khỏi bệnh là cao nên chị muốn anh B nuôi con trong giai đoạn này. Khi chị kết thúc quá trình điều trị bệnh chị sẽ đón hai con về ở cùng.

Lý do chị xin nuôi hai con vì:

Chị có đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con với sự hỗ trợ từ phía gia đình chị. Anh B không có đủ điều kiện chăm sóc các con, công việc của anh B hay phải đi công tác. Chị không muốn các con sống xa nhau và hai con chị là con gái đang trong giai đoạn phát triển nên rất cần có mẹ để chỉ bảo.

Chị không xuất trình được tài liệu chứng minh nguyện vọng của hai con chung muốn ở với mẹ.

Về tài sản, nhà ở và nợ chung: Chị và anh B không có.

Về công nợ chung: Chị và anh B không có nợ chung.

Do điều kiện chị đang điều trị bệnh nên chị xin phép được vắng mặt phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, mong Tòa án xử theo trường hợp chị vắng mặt.

Tại phiên tòa:

Anh Vũ Đăng B vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn và trình bày:

Anh có Công ty kinh doanh riêng, có nhà ở và có thu nhập ổn định, anh hiện đang sống tại số 2 ngách 1 ngõ 10 phố Hoàng Ngọc Phách, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Anh có đầy đủ điều kiện để chăm sóc nuôi dưỡng cả hai con chung. Anh xin nuôi cả hai con chung, anh không yêu cầu chị H phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên nếu chị H có nguyện vọng nuôi cả hai con, anh cũng đồng ý giao hai con cho chị H và anh đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung là 10.000.000 đồng/tháng / 02 con kể từ tháng 01 năm 2023.

Chị Phạm Hà Thu H vắng mặt tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua lời khai của đương sự tại phiên tòa hôm nay cho thấy mâu thuẫn vợ chồng anh B và chị H đã trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh B, cho anh B được ly hôn với chị H.

Về con: Giao cả hai con chung cho chị Phạm Hà Thu H nuôi dưỡng. Anh Vũ Đăng B tự nguyện đóng góp tiền nuôi con chung là 10.000.000 đồng/tháng/hai con cho đến khi con chung thành niên hoặc có sự thay đổi khác, anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung không ai được cản trở. Về tài sản và nhà ở: Anh B và chị H tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Anh B phải chịu 300.000 đồng án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng:

Tòa án đã thực hiện việc niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa đối với chị Phạm Hà Thu H theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng chị H vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị H.

[2]. Về nội dung:

Anh Vũ Đăng B và chị Phạm Hà Thu H kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội ngày 30/01/2007 là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã sống ly thân không quan tâm đến nhau.

Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa anh B và chị H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho anh B ly hôn chị H.

Về con chung: Anh B và chị H có 02 con chung là Vũ Khánh V, sinh ngày 28/01/2008 và Vũ Trúc L, sinh ngày 19/12/2011. Anh B và chị H có đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và đều có nguyện vọng xin được nuôi con.

Xét thấy, việc giao con chung cho ai chăm sóc nuôi dưỡng phải căn cứ vào quyền và lợi ích của con, hai con của anh chị là con gái nên cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng của người mẹ. Chị H có nguyện vọng nuôi dưỡng cả hai con chung, anh B cũng đồng ý. Do đó, giao hai con cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng.

Anh B tự nguyện đóng góp nuôi con chung là 10.000.000 đồng/tháng/02con từ tháng 01 năm 2023 cho đến khi các con chung thành niên hoặc có sự thay đổi khác.

Anh B có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.

Về tài sản và nhà ở: Anh B và chị H tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

Về công nợ: Anh B và chị H không có.

Về án phí: Anh B phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Anh B có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 56, 58; 59; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Điều 28; điều 144; điều 147; Điều 227; Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Xử:

1, Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Vũ Đăng B.

Anh Vũ Đăng B ly hôn với chị Phạm Hà Thu H.

2, Về con chung: Anh Vũ Đăng B và chị Phạm Hà Thu H có 02 (hai) con chung là Vũ Khánh V, sinh ngày 28/01/2008 và Vũ Trúc L, sinh ngày 19/12/2011. Giao hai con chung cho chị Phạm Hà Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Anh Vũ Đăng B tự nguyện đóng góp tiền nuôi con chung là 10.000.000 đồng/tháng/02 con kể từ tháng 01 năm 2023 cho đến khi các con chung thành niên hoặc có sự thay đổi khác.

Anh Vũ Đăng B có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung không ai được cản trở.

3, Về tài sản và nhà ở: Anh Vũ Đăng B và chị Phạm Hà Thu H tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

4, Về công nợ: Anh Vũ Đăng B và chị Phạm Hà Thu H không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

5, Về án phí: Anh Vũ Đăng B phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002525 ngày 17/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình.

Anh Vũ Đăng B có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Chị Phạm Hà Thu H vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ