- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xử ly hôn giữa chị Vũ Thị Lệ T và anh Lã Văn M."
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Vũ Thị Lệ T và anh Lã Văn M.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2023/HNGĐ-ST Ngày: 20-6-2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Dung, ông Vũ Xuân Trúc.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định.
Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 20/6/2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Ý Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 52/2023/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/6/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Lệ T - Sinh năm 1998
Địa chỉ: Đại Bái, xã T, huyện L, tỉnh Hà Nam.
Bị đơn: Anh Lã Văn M - Sinh năm 1991
Địa chỉ: Xóm T, xã Yên P, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa: Vắng mặt chị T, anh M (chị T có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; anh M vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nguyên đơn chị Vũ Thị Lê T trình bày:
Chị và anh Lã Văn M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Quá trình chung sống giữa chị và anh M phát sinh mâu thuẫn nguyện nhân chủ yếu là do mâu thuẫn của vợ chồng chị bất đồng quan điểm sống nên hai bên không tìm được tiếng nói chung, đời sống chung căng thẳng, không có hạnh phúc. Chị và anh M hiện sống ly thân nhau. Nay chị xác định tình cảm giữa chị và anh M không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định giải quyết cho chị được ly hôn với anh M.
Anh chị có 01 con chung là Lã M K sinh ngày 12/6/2020, hiên nay cháu K đang ở với anh M, chị xin được nuôi cháu K, chị không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ và các vấn đề khác có liên quan: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
2. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng, giấy triệu tập anh M đến làm việc nhưng anh M vắng mặt không lý do.
Ông Lã Văn T là bố đẻ của anh Lã Văn M cho biết: Chị Vũ Thị Lệ T và anh Lã Văn M chung sống có đăng ký kết hôn tại UNND xã Yên P, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định ngày 26/7/2019. Mâu Tẫn giữa anh M và chị T chủ yếu là do kinh tế. Anh M và chị T đã ly thân và chấm dứt mọi quan hệ vợ chồng từ tháng 12/2022 đến nay. Chị T làm đơn xin ly hôn gửi tòa án, anh M đã nhận được thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của tòa án. Tuy nhiên do bận công việc nên anh M không đến tòa án để làm việc được. Quan điểm của anh M và gia đình là không muốn anh chị ly hôn.
Anh chị có 01 con chung là Lã M K sinh ngày 12/6/2020, hiên nay cháu K đang ở với anh M. Nguyện vong của gia đình và anh M là xin được nuôi cháu K, không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ và các vấn đề khác có liên quan: Anh M không yêu cầu tòa án giải quyết.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, anh M vắng mặt. Chị T có đơn đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Toà án đã thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh M theo quy định tại khoản 3 Điều 210 và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa:
Chị T xin giải quyết vắng mặt. Anh M mặc dù được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà. Chủ tọa phiên tòa công bố đơn của chị T đề nghị xét xử vắng mặt. Vụ án được xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại các Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chủ tọa phiên tòa công bố tóm tắt nội dung vụ án và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa có quan điểm:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn không thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Vũ Thị Lệ T. Đề nghị áp dụng Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Lã M K cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận việc chị T không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Về tài sản chung và các vấn đề khác, các đương sự không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Chị T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Chị T có đề nghị xin xét xử vắng mặt, anh M mặc dù được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Hôn nhân giữa chị Vũ Thị Lệ T và anh Lã Văn M là hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị sống hạnh phúc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do giữa anh, chị không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên bất đồng quan điểm, hay xảy ra va chạm dẫn đến cuộc sống chung không có hạnh phúc. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên kiên quyết xin ly hôn với anh M. Về phía anh M, mặc dù anh biết việc chị T xin ly hôn, đã được Toà án triệu tập để tham gia tố tụng, thông báo để hoà giải cho anh chị nhưng anh M vẫn cố tình vắng mặt. Điều đó chứng tỏ anh không còn thiết tha hàn gắn tình cảm với chị T nữa. Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải cho anh chị nhưng anh M vẫn vắng mặt. Chị T đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải vụ án và kiên quyết xin ly hôn anh M nên Tòa án không thể gắn kết hạnh phúc cho anh chị được. Xét thấy, anh chị đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không có, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận đơn của chị T, xử cho anh chị ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Lã M K sinh ngày 12/6/2020, hiên nay cháu K đang ở với anh M. Xét thấy, việc chăm sóc, nuôi dạy con chung chưa thành niên là trách nhiệm, nghĩa vụ, là quyền lợi của cha mẹ nên nguyện vọng xin được nuôi dưỡng con chung của chị T, anh M đều là nguyện vọng chính đáng. Hiện nay cháu M còn nhỏ nên cần được sự chăm sóc trực tiếp của mẹ hơn, hơn nữa chị T đang có công việc và có T nhập ổn định. Về phía anh M mặc dù có nguyện vọng xin được nuôi dưỡng con chung nhưng anh M không hợp tác với tòa án để giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử thấy cần giao con chung cháu Lã M K cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp theo quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác trong quan hệ hôn nhân: Không ai có yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Điều 271, 272 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ các Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Vũ Thị Lệ T và anh Lã Văn M.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Lã M K, sinh ngày 12/6/2020 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Nghĩa vụ bàn giao con: Do hiện nay cháu Lã M K đang sống cùng anh Lã Văn M tại xóm T, xã Yên P, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định nên anh M phải có trách nhiệm bàn giao con chung cháu Lã M K cho chị Vũ Thị Lệ T trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.
4. Về án phí sơ thẩm ly hôn: Chị Vũ Thị Lệ T phải nộp là 300.000 đồng, đối trừ tại Biên lai T tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003908, ngày 09/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ý Yên, chị T đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo của đương sự: Chị Vũ Thị Lệ T và anh Lã Văn M được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thoả Tận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi Hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh; - VKSND Tỉnh+Huyện; - Chi cục Thi hành án dân sự; - Các đương sự; - UBND xã Yên P; - Hồ sơ vụ án; - Lưu VP | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Vũ Văn Anh |