- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn Ấu Thị N - Hoàng Văn C"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ấu Thị N:
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÀO CAI Bản án số: 35/2023 /HNGĐ-ST Ngày: 29/9/2023 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Nghĩa;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Ánh Dương và bà Hà Thị Hằng;
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Nông Thị Mới - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 78/2023/TLST-HNGĐ Ngày 08/6/2023 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2023 /QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Ấu Thị N, sinh năm 1993. ĐKHKTT: Thôn C 2, xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai. Nơi ở hiện nay: Thôn E 3, xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Hoàng Văn C, sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn C 2, xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do.
- Người làm chứng:
1, Bà Ấu Thị T, sinh năm 1964. Địa chỉ: Thôn E 3, xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai.
2, Ông Lương Văn V, sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn C 2, xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai. Những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nguyên đơn chị Ấu Thị N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Văn C có tìm hiểu yêu đương và tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán và về chung sống với nhau từ năm 2012. Đến ngày 17/01/2013 tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh C thường xuyên ghen tuông vô cớ, dẫn đến vợ chồng hay cãi nhau, khi cãi nhau anh C thường xuyên đe dọa chị, đỉnh điểm là đầu năm 2020 vợ chồng tiếp tục cãi nhau, chị và 02 con bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở thôn E 3, xã V sinh sống. Chị và anh C sống ly thân từ đó đến nay. Mẫu thuẫn vợ chồng đã được 02 bên gia đình nội, ngoại khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn C.
Về con chung: Chị và anh Hoàng Văn C có 02 con chung là cháu Hoàng Ngọc B, sinh ngày 21/01/2013 và cháu Hoàng Đức H, sinh ngày 10/02/2016. Hiện nay cả 02 cháu đang sống cùng chị tại thôn E 3, xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai. Nay ly hôn chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Hoàng Ngọc B, sinh ngày 21/01/2013 và cháu Hoàng Đức H sinh ngày 10/02/2016 đến khi 02 cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị Ấu Thị N xác nhận vợ chồng không có tài sản gì chung, nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về vay nợ: Chị Ấu Thị N xác định trong thời gian chung sống vợ chồng không vay nợ cá nhân, tổ chức, ngân hàng nào và không cho ai vay nợ gì, nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
2. Đối với bị đơn anh Hoàng Văn C:
Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Hoàng Văn C. Bản thân anh C đã biết việc chị N khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh, nhưng anh C không lên Tòa án làm việc. Anh chỉ có duy nhất 01 bản tự khai thể hiện ý kiến rằng anh không nhất trí lý hôn với chị N, anh cũng xác nhận vợ chồng đã ly thân được 03 năm, do không nhất trí ly hôn nên anh không có ý kiến gì về vấn đề con chung và tài sản, vay nợ. Anh C cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn chị Ấu Thị N có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn mở phiên tòa để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Tại phiên Tòa:
- Nguyên đơn chị Ấu Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
- Bị đơn anh Hoàng Văn C vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án và phiên tòa hôm nay, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 16 Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 229 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Giải quyết theo hướng:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Ấu Thị N được ly hôn với anh Hoàng Văn C.
- Về con: Giao cháu Hoàng Ngọc B, sinh ngày 21/01/2013 và cháu Hoàng Đức H, sinh ngày 10/02/2016 cho chị Ấu Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Hoàng Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí và quyền kháng cáo tuyên theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa; Ý kiến của kiểm sát viên; căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về Tố tụng: Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện và các chứng cứ kèm theo chị Ấu Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Hoàng Văn C, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Thôn C 2, xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai và quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.
Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị đơn anh Hoàng Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do; người làm chứng vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn chị Ấu Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Ấu Thị N và anh Hoàng Văn C tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai vào ngày 17/01/2013, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, đỉnh điểm là đầu năm 2020 vợ chồng cãi nhau, chị N và 02 con bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở thôn E 3, xã V sinh sống. Chị N và anh C sống ly thân nhau từ đó cho đến nay. Mặc dù mẫu thuẫn của vợ chồng anh chị đã được hai bên gia đình khuyên giải nhiều lần, nhưng anh chị vẫn không hàn gắn được cuộc sống chung vợ chồng. Do xác định tình cảm vợ chồng không còn, mẫu thuẫn vợ chồng không khắc phục được. Nên chị N đề nghị xin được ly hôn với anh Hoàng Văn C.
Đối với anh Hoàng Văn C cũng xác nhận vợ chồng sống ly thân đến nay được 03 năm, nhưng anh không nhất trí ly hôn vì anh vẫn còn yêu thương vợ. Tuy nhiên anh cũng không có ý kiến và không cung cấp các lài liệu chứng cứ gì để xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn. Bản thân anh cũng không đến Tòa án để tiến hành hòa giải hàn gắn gia đình.
Từ những phân tích trên, có đủ căn cứ xác định: Giữa chị Ấu Thị N và anh Hoàng Văn C có nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi chửi nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung trong hôn nhân, anh chị đã sống ly thân một thời gian dài, cuộc hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của chị Ấu Thị N với anh Hoàng Văn C.
Về con chung:
Trong quá trình chung sống vợ chồng anh chị có 02 con chung là cháu Hoàng Ngọc B, sinh ngày 21/01/2013 và cháu Hoàng Đức H, sinh ngày 10/02/2016. Hiện nay cả 02 cháu đang sống cùng chị N tại thôn E 3, xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai. Hiện tại chị Ấu Thị N là lao động tự do tại địa phương có thu nhập bình quân là 7.000.000 đồng/ tháng. Các cháu Hoàng Ngọc B và cháu Hoàng Đức H đều có ý kiến nguyện vọng được ở với mẹ là chị N, khi bố mẹ ly hôn.
Vì vậy, để đảm bảo sự ổn định cho cuộc sống và sự phát triển của các cháu, nên cần giao cả 02 cháu cho chị Ấu Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi, là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Ấu Thị N không yêu cầu anh Hoàng Văn C cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản và vay nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu, nên Tòa án không đề cập giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn chị Ấu Thị N phải chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung và hướng giải quyết vụ án là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147, khoản 1, 3 Điều 228; khoản 2 Điều 229; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ấu Thị N:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Ấu Thị N được ly hôn với anh Hoàng Văn C.
- Về con chung: Giao cháu Hoàng Ngọc B, sinh ngày 21/01/2013 và cháu Hoàng Đức H, sinh ngày 10/02/2016 cho chị Ấu Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu B và cháu H đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Hoàng Văn C không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
2. Về án phí: Nguyên đơn chị Ấu Thị N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004478 ngày 08/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Chị Ấu Thị N đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Hoàng Văn C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh LC (1); - VKSND (2); - Các đương sự (2); - CCTHADS (1); - UBND xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai (1); - Lưu HS, TP, TA (4). | TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Nghĩa |