- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ban an HNGD"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lò Thị D đối với anh Lường Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 35/2023/HNGĐ-ST Ngày 31 tháng 7 năm 2023 V/v :“Xin ly hôn, giải quyết nuôi con chung" |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Thành Vân
2. Ông Quàng Văn Tiện
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Huy – thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa: Ông Quàng Văn Cuộc – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 117/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2023 về việc “Xin ly hôn”. Theo quyết định xét xử số: 43/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị D, sinh năm 1996. Địa chỉ: Bản M, xã M, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Vắng mặt tại phiên tòa.
2. Bị đơn: Anh Lường Văn T, sinh năm 1995. Địa chỉ: Bản M, xã M, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Hiện đang chấp hành án tại trại giam Yên Hạ thuộc huyện Phú Yên, tỉnh Sơn La. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 12 tháng 6 năm 2023 và bản tự khai chị Lò Thị D trình bày:
Chị và anh Lường Văn T đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La vào ngày 15/8/2018. Trước khi kết hôn hai vợ chồng tự nguyện tìm hiểu, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian tại Bản M, xã M, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai vợ chồng tính cách không hợp, mỗi người một quan điểm, không cùng nhau chăm lo làm ăn phát triển kinh tế dẫn đến thường xuyên cãi vã. Anh T chơi bời dính vào tệ nạn xã hội và đã bị bắt về hành vi liên quan tới ma túy. Hiện nay đang chấp hành án tại Trại Giam Yên Hạ. Chị và anh T đã sống ly thân với nhau từ năm 2020 cho tới nay. Chị xác nhận tình cảm vợ chồng không còn, vì vậy chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xem xét giải quyết cho chị được ly hôn.
Về con chung: Qua thời gian chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Lường Mạnh C, sinh ngày 13/11/2018. Khi ly hôn chị D đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con cùng.
Về tài sản chung: Không kê khai, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về vay nợ chung: Không có.
Quá trình giải quyết vụ án, do anh Lường Văn T đang chấp hành án tại Trại giam Yên Hạ. Tòa án đã tiến hành tống đạt cho anh T các văn bản tố tụng, lấy lời khai của anh T về những vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án. Tại bản tự khai anh T thừa nhận việc anh và chị D kết hôn với nhau từ năm 2018, có 01 con chung, quá trình chung sống hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân được một thời gian. Nay chị D có yêu cầu ly hôn với anh, anh T đồng ý, về con chung anh đề nghị giao con chung cho chị Lò Thị D trực tiếp nuôi dưỡng. Về nợ chung anh khai không có, về tài sản chung không kê khai, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh T có đơn đề nghị Tòa án huyện Sông Mã không tiến hành hòa giải và xét xử vắng mặt anh.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán, thư ký đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng; Quá trình xét xử Hội đồng xét xử đã tuân theo quy định của Pháp luật và các thủ tục. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật từ thời điểm thụ lý vụ án và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được tống đạt các thủ tục theo quy định và có đơn xin được xét xử vắng mặt. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị xử cho chị Lò Thị D được ly hôn với anh Lường Văn T; Về con chung: giao con chung là cháu Lường Mạnh C, sinh ngày 13/11/2018 cho chị Lò Thị D được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục đến đủ 18 tuổi, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con cùng. Về tài sản chung: Không yêu cầu, nợ chung không có nên không xem xét trong vụ án này. Về án phí: Chị Lò Thị D chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và đã được xem xét thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền tố tụng: Nguyên đơn chị Lò Thị D và bị đơn anh Lương Văn T có địa chỉ tại Bản M, xã M, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, do vậy Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La thụ lý, giải quyết là đảm bảo theo quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa do đang phải chấp hành án trong trại giam nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Dó đó, Tòa án giải quyết theo thủ tục chung và quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị D và anh Lường Văn T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La vào năm 2018, căn cứ khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định quan hệ hôn nhân của anh chị là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Qua các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D và anh T xuất phát từ việc hai vợ chồng không cùng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, anh T chơi bời và dính vào tệ nạn xã hội phải đi chấp hành án phạt tù, chị D và anh T đều nhất trí và mong muốn được ly hôn. Xét mâu thuẫn đã kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Việc quyết định cho chị D ly hôn anh T là phù hợp với nguyện vọng của các bên đương sự và phù hợp với các quy định tại Điều 55, 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Lò Thị D đề nghị được trực tiếp nuôi con chung là Lường Mạnh C, sinh ngày 13/11/2018 và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con cùng.
Xét thấy, anh T hiện đang chấp hành án nên không có khả năng nuôi con, anh T cũng có nguyện vọng là nếu ly hôn anh đồng ý giao con chung cho chị D nuôi dưỡng và anh không phải cấp dưỡng. Do vậy để đảm bảo mọi quyền lợi cho cháu, để cháu phát triển tốt nhất cần chấp nhận yêu cầu của chị D là tiếp tục giao con chung cho chị D trực tiếp chăm sóc, giáo dục đến đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của Pháp luật, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh T có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với Điều 81, 82, 83,84 Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự đều khai không có nợ chung, tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt vấn đề giải quyết trong vụ án này.
Về án phí: Chị Lò Thị D là nguyên đơn nên phải chịu toàn bộ án phí xin ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 55, 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lò Thị D đối với anh Lường Văn T.
Xử cho chị Lò Thị D được ly hôn anh Lường Văn T.
2 .Về con chung:
Giao cháu Lường Mạnh C, sinh ngày 13/11/2018 cho chị Lò Thị D trực tiếp, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của Pháp luật.
Anh Lường Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị D. Anh T có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Lò Thị D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp theo biên lại số: AA/2021/0003071, ngày 14 tháng 6 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Chị Lò Thị D đã nộp đủ án phí
4. Về quyền kháng cáo: Chị Lò Thị D, anh Lường Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh; - Viện kiểm sát Sông Mã; - THADS; - Các đương sự; - UBND xã Y; - Lưu hồ sơ - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣờng Văn Quyết |