vanban.org

Bản án 35/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thanh H và anh Nguyễn Xuân L.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thanh H phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng. Được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Trực theo biên lai thu số 0004844 ngày 30/12/2022. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thanh H, anh Nguyễn Xuân … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thanh H ly hôn Nguyễn Xuân L"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thanh H và anh Nguyễn Xuân L.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM TRỰC
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 16-5-2023.
V/v: “Ly hôn giữa chị H và anh L”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thế Bình.

Ông Nguyễn Văn Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Lê Duy Khôi - Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 243/2022/TLST-HNGĐ ngày 30/12/2023 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2023/QĐST-HNGĐ ngày 17/4/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thanh H; Sinh năm: 1999(Vắng mặt)

Địa chỉ: Xóm 33, xã Đ, huyện N, tỉnh Nam Định.

Bị đơn:Anh Nguyễn Xuân L; Sinh năm: 1991(Vắng mặt)

Địa chỉ: Xóm 7, xã Đ, huyện N, tỉnh Nam Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 19/12/2022 và toàn bộ quá trình tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Thanh H trình bày: Chị và anh Nguyễn Xuân L kết hôn vào tháng10 năm 2019, quá trình tìm hiểu tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện N, tỉnh Nam Định. Sau khi cưới vợ chồng chung sống bình thường nhưng do bất đồng quan điểm tích cách nên tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, hôn nhân không có hạnh phúc. Từ tháng 3/2022 cho đến nay, vợ chồng sống ly thân. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh L đã thực sự đổ vỡ, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ. Vì vậy, chị đề nghị Toà án xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Xuân L.

Về con chung: Vợ chồng anh chị chưa có con chung.

Về tài sản, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thanh H vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bị đơn anh Nguyễn Xuân L không đến Tòa án để trình bày quan điểm của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị Huyền. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Nguyễn Xuân L vẫn vắng mặt.

Kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án đối với ông Nguyễn Đình Q là bác của anh Nguyễn Xuân L cho thấy: Bố mẹ anh Nguyễn Xuân L nhờ ông để làm việc với Tòa án. Ông cho biết hiện anh L đang sinh sống cùng bố mẹ tại xóm 7, xã Đ, huyện N, tỉnh Nam Định. Anh Nguyễn Xuân L kết hôn cùng chị Nguyễn Thanh H vào năm 2019, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Điền Xá. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Từ tháng 8/2022 cho đến nay, chị Hvề nhà bố mẹ đẻ ở, anh chị sống ly thân. Nay chị Hxin ly hôn, đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật để giải quyết. Về con chung: Vợ chồng anh chị chưa có con chung. Về tài sản, công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Về nội dung vụ án: Áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thanh H và anh Nguyễn Xuân L. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thanh H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thanh H, anh Nguyễn Xuân L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thanh H có đơn xin giải quyết vắng mặt. Anh Nguyễn Xuân L đã được Tòa án triệu tập hộp lệ lần hai vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về việc kết hôn: Chị Nguyễn Thanh H và anh Nguyễn Xuân L kết hôn vào ngày 17 tháng 10 năm 2019, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện N, tỉnh Nam Định. Vì vậy, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Về quan hệ hôn nhân: Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống bình thường được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp về tính cách, bất đồng về quan điểm sống. Anh chị có thời gian sống ly thân không ai quan tâm chăm sóc đến ai. Nay chị Hxác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh L không còn; chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn. Trong toàn bộ quá trình kể từ khi ly thân anh chị không có biện pháp hữu hiệu để hàn gắn đoàn tụ và trong quá trình giải quyết vụ án anh L không có mặt để tìm biện pháp hàn gắn. Điều đó chứng tỏ anh chị không còn tha thiết với cuộc sống chung vợ chồng nữa. Vì vậy, cuộc hôn nhân giữa chị Hvà anh L nếu có duy trì thì mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thanh H đối với anh Nguyễn Xuân L.

Về con chung: Vợ chồng anh chị chưa có con chung, vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Huyền, anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thanh H phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thanh H, anh Nguyễn Xuân L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thanh H và anh Nguyễn Xuân L.

2.Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thanh H phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng. Được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Trực theo biên lai thu số 0004844 ngày 30/12/2022.

3.Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thanh H, anh Nguyễn Xuân L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các đương sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ