- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị Trúc L-Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 điểm, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẾN TRE Bản án số: 35/2023/HNGĐ- ST Ngày: 29-3-2023 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hết
2. Ông Phạm Văn Nam
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Thắm – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Hoàng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 06/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2023 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 84/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 22 tháng 3 năm 2023 giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Trúc L , sinh năm 1984; Nơi cư trú: 182A2, ấp 1, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1987; Nơi cư trú: ấp T, xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Chị L và anh T vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 29/11/2022 cũng như trong quá trình tố tụng chị Huỳnh Thị Trúc L trình bày:
Chị và anh T do quen biết tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2017 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre vào ngày 14/02/2017. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc và có với nhau 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Gia H, sinh ngày 07/02/2021. Đến năm 2021 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh T thường xuyên bỏ nhà đi nên vợ chồng thường xuyên cãi vã dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và đã L thân từ năm 2022 cho đến nay. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin L hôn đối với anh T.
Về con chung: Sau khi L hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có
Về nợ chung: Không có
Anh Nguyễn Văn T vắng mặt tại Tòa nên không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam phát biểu quan điểm cho rằng:
- Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cũng như đương sự nghiêm túc thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình được Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản liên quan quy định. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên vi phạm quy định tại Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin L hôn của chị L đối với anh T cụ thể:
+ Về hôn nhân: chị L và anh T được L hôn với nhau.
+ Về con chung: Sau khi L hôn chị L trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Huỳnh Gia Hân, sinh ngày 07/02/2021, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị L không yêu cầu.
+ Về tài sản chung: không có
+ Về nợ chung: không có
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Căn cứ vào đơn khởi kiện đề ngày 29/11/2022 của chị Huỳnh Thị Trúc L đối với anh Nguyễn Văn T thì vụ án có quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”. Quan hệ pháp luật tranh chấp nêu trên được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam.
Anh Nguyễn Văn T có nơi cư trú tại xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam thụ lý đúng thẩm quyền.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo mở phiên họp công khai chứng cứ cũng như thông báo hòa giải cho anh T đến Tòa để T hành hòa giải nhưng anh T vắng mặt nên không thể T hành hòa giải được. Ngoài ra, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre cũng đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho anh T đến để tham gia phiên tòa nhưng anh T vắng mặt không rõ lý do đồng thời chị L cũng có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre T hành xét xử vắng mặt đối với anh T và chị L là phù hợp.
[2] Về nội dung tranh chấp:
2.1 Về hôn nhân: chị Huỳnh Thị Trúc L và anh Nguyễn Văn T tự nguyện tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn vào ngày 14/02/2017 tại UBND xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre nên được xem là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Anh chị cũng có thời gian chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và đã L thân từ năm 2022 cho đến nay. Xét thấy, yêu cầu xin L hôn của chị L là có căn cứ nên được chấp nhận, bởi lẽ sau khi Toà thụ lý hồ sơ vụ án đã ra thông báo thụ lý vụ án, thông báo hoà giải cho anh T biết để anh đến Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam tham gia hoà giải với chị L nhằm tìm biện pháp tích cực để vợ chồng hàn gắn đoàn tụ xây dựng gia đình hạnh phúc, nhưng anh T vẫn cố tình không đến, điều đó chứng tỏ anh T cũng không có thiện chí đoàn tụ với chị L. Nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu xin L hôn của chị L đối với anh T là phù hợp.
2.2. Về con chung:
Trong thời gian chung sống chị Huỳnh Thị Trúc L và anh Nguyễn Văn T có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Gia H, sinh ngày 07/02/2021. Hiện tại cháu H đang sống với chị L, chị L cũng yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và anh T cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị L. Do đó, để đảm bảo cuộc sống của cháu Hân không bị thay đổi, không làm ảnh hưởng đến tâm lý của cháu, Hội đồng xét xử thấy rằng nên giao cháu Hân cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về mức cấp dưỡng nuôi con: Do chị L không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
2.3 Về tài sản chung: Chị L khai không có nên không xem xét giải quyết.
2.4 Về nợ chung: : Chị L khai không có nên không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí:
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng chị Huỳnh Thị Trúc L phải có nghĩa vụ nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 điểm, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ các điều 51, 53, 54, 56, 58, 59, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu xin L hôn của chị Huỳnh Thị Trúc L đối với anh Nguyễn Văn T, cụ thể tuyên:
1. Về hôn nhân: chị Huỳnh Thị Trúc L và anh Nguyễn Văn T được L hôn với nhau.
2. Về con chung: Sau khi L hôn chị Huỳnh Thị Trúc L được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Huỳnh Gia H, sinh ngày 07/02/2021, anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị L không yêu cầu.
Anh Nguyễn Văn T được quyền đến thăm, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.
Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.
3 Về tài sản chung: Chị L khai không có nên không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Chị L khai không có nên không xem xét giải quyết
5. Về án phí: án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng chị Huỳnh Thị Trúc L có nghĩa vụ nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001130 ngày 10/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre
“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án nơi thường trú.
| Nơi nhận: - TAND Bến Tre (1b); - VKSND huyện Mỏ Cày Nam (2b); - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Nam (1b); - UBND xã Phú Nhuận (1b); - Những người tham gia tố tụng (2b); - Lưu HS, VP, THA (4b). | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Hồng Diễm |