- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định anh
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2023/HNGĐ-ST Ngày: 20-3-2023 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thanh Kỳ và ông Hoàng Luật.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Thành Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Vũ Xuân Trường– Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 15/2023/TLST- HNGĐ ngày 09/02/2023, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nông Văn C sinh năm 1991
Địa chỉ: Thôn Đồng Mạ, xã T, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
Bị đơn: Chị Triệu Thị M, sinh năm 1992
Cùng cư trú: Tổ 6, Ấp 2, xã T, huyện Đ, Đồng Nai.
(Các đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nông Văn C trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Triệu Thị M kết hôn tự nguyện, chung sống với nhau vào năm 2012, có đăng ký kết hôn số 188, quyển số 01/2012, ngày 01/8/2012 tại UBND xã Thanh Sơn, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo luật định. Cuộc sống chung hạnh phúc đến năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai người không hòa hợp nhau về tính tình, bất đồng quan điểm sống nên không có tiếng nói chung trong cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày nên vợ chồng sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Anh nhận thấy tình cảm thương yêu không còn nên yêu cầu được ly hôn với chị M.
- Về nuôi con: Anh trình bày anh và chị có con chung Nông Quang Bảo, sinh ngày 11/11/2012. Khi ly hôn, anh đồng ý giao con chung cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng và anh không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo biên bản lấy lời khai của bị đơn chị Triệu Thị M trình bày.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị thừa nhận về thời điểm kết hôn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn như anh C trình bày là đúng sự thật. Vợ chồng tiến tới hôn nhân là tự nguyện có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Thanh Sơn, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy kết hôn số 188, quyển số 01/2012, ngày 01/8/2012. Cuộc sống chung hạnh phúc đến năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai người không hòa hợp nhau về tính tình, bất đồng quan điểm sống nên không có tiếng nói chung trong cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày nên vợ chồng sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Chị nhận thấy tình cảm thương yêu không còn nên đồng ý ly hôn với anh C.
- Về nuôi con: Chị và anh C có con chung Nông Quang Bảo, sinh ngày 11/11/2012. Khi ly hôn, chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu anh Chung cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn và bị đơn có đơn xét xử vắng mặt đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Chung. Về hôn nhân: Cho anh C được ly hôn với chị M. Về con chung: Giao con chung Nông Quang Bảo cho chị M được trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời anh C không phải cấp dưỡng nuôi con do chị M không yêu cầu. Tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét. Về án phí: Anh C phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
Về áp dụng pháp luật tố tụng:
. Xác định thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật: Chị Triệu Thị M có nơi cư trú tại ấp 2, xã Thanh Sơn, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai. Vì vậy, căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Định Quán. Anh Ch yêu cầu ly hôn, vì vậy cần xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Xác định tư cách đương sự: Ngày 09/02/2023, Tòa án thụ lý yêu cầu khởi kiện về việc anh C xin ly hôn với chị M. Căn cứ theo khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định anh là nguyên đơn, chị M là bị đơn trong vụ án.
[1.3]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xét xử vắng mặt căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
Về áp dụng pháp luật nội dung:
- Về hôn nhân: Hôn nhân giữa anh C và chị M được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn số 188, quyển số 01/2012, ngày 01/8/2012 tại UBND xã Thanh Sơn, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo luật định. Như vậy, hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Tại biên bản lấy lời khai ngày 09/02/2023 của chị M và biên bản lấy lời khai ngày 10/02/2023 của người làm chứng ông Triệu Văn M (cha ruột chị M) thể hiện vợ chồng chị có mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, không có tiếng nói chung nên mâu thuẫn phát sinh từ năm 2018 và vợ chồng đã không còn sống chung với nhau từ năm 2018 cho đến nay, chị M cũng đồng ý ly hôn với anh Chung. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định, anh C và chị M đã không còn tình cảm thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn có cơ sở để chấp nhận nên cho anh Chung được ly hôn với chị M.
- Về nuôi con chung: có 01 con chung Nông Quang B, sinh ngày 11/11/2012, anh C và chị M thỏa thuận giao con cho chị M nuôi dưỡng. Hiện chị M làm công nhân tại Công ty Cổ Phần Đồng Tiến ở Biên Hòa có thu nhập hàng tháng đủ điều kiện nuôi con. Bên cạnh đó con chung Quang B có đơn nguyện vọng mong muốn được ở với mẹ. Để bảo đảm cuộc sống cho con chung phát triển tốt về mặt thể chất cũng như ổn định vấn đề tinh thần, tâm lý cho trẻ nên tiếp tục giao con chung cho chị M được nuôi dưỡng là có cơ sở. Căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và Gia đình, do chị M không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên tạm thời miễn cho C nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
Về án phí: Anh C phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về ly hôn.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 11, Điều 18, Điều 85, Điều 89, Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về yêu cầu khởi kiện: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nông Văn Chung.
- Về hôn nhân: Anh Nông Văn C được ly hôn với chị Triệu Thị M.
- Về nuôi con chung: Giao con chung Nông Quang B, sinh ngày 11/11/2012 cho chị Triệu Thị M được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục. Tạm thời miễn cho anh C nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, anh Chung và chị M có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
2. Về án phí: Anh Nông Văn C phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Số tiền 300.000đ anh C đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004096 ngày 09/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai được chuyển thành án phí.
3. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
4. Về quyền kháng cáo: Báo cho anh C và chị M biết, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (M lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Định Quán; - Chi cục THA DS huyện Định Quán; - Các đương sự (để thi hành); - UBND xã Thanh Sơn, huyện Định Quán, số 188, quyển số 01/2012, ngày 01/8/2012 để ghi vào sổ hộ tịch; - Lưu Hồ sơ – Lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Lan |