- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGÔ THANH T - NGUYỄN THỊ T1"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2023/HNGĐ-ST Ngày 24 - 7 - 2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Độ;
Ông Phạm Tấn Bình.
- Thư ký phiên tòa: bà Phan Thị Phương, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mai Giang – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 111/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2023 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 68/2023/QĐST- HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Ngô Thanh T, sinh năm 1988, nơi cư trú: ấp S, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương, có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1986; nơi cư trú: ấp S, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn ông Ngô Thanh T trình bày:
Ông T và bà T1 là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương vào ngày 13 tháng 01 năm 2012 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 07, quyển số 01/2012. Sau khi kết hôn, ông T và bà T1 sinh sống tại ấp S, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc ông T và bà T1 không hợp tính tình, không có tiếng nói chung trong cuộc sống và cách nuôi dạy con. Bà T1 không quan tâm chăm sóc gia đình. Ông T và bà T1 phát sinh mâu thuẫn từ năm 2019 cho đến nay. Ông T và bà T1 không còn sống chung, vợ chồng không còn yêu thương nhau. Do mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ông T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà T1.
Về con chung: ông T và bà T1 có hai con chung tên Ngô Quỳnh A, sinh ngày 05 tháng 7 năm 2012 và Ngô Thị Huệ N, sinh ngày 18 tháng 7 năm 2016. Khi ly hôn, ông T yêu cầu được nuôi hai con chung; ông T không yêu cầu bà T1 cấp dưỡng nuôi 02 con chung. Hiện nay, ông T là người trực tiếp nuôi hai con chung là cháu N và cháu A. Cháu N và cháu A có nguyện vọng ở cùng ông T. Ông T hiện nay làm công việc khai thác mủ cao su và tài xế chạy xe dịch vụ, thu nhập bình quân hàng tháng khoảng 15.000.000 đồng.
Về tài sản chung và nợ chung: ông T và bà T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chứng cứ nguyên đơn cung cấp để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện gồm: Giấy chứng nhận kết hôn (bản sao).
Tòa án không tống đạt trực tiếp được các văn bản tố tụng cho bà T1 do bà T1 thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú. Theo kết quả xác minh ngày 11 tháng 5 năm 2023 tại Công an xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương được biết: bà T1 có đăng ký thường trú ấp S, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông V theo hình thức niêm yết công khai tại nơi cư trú của bà T1, trụ sở Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương và trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương. Tuy nhiên, bà T1 không gửi văn bản trình bày ý kiến của bị đơn về việc ông T yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con và cũng không đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử.
Theo biên bản xác minh tình trạng hôn nhân giữa ông T và bà T1 ngày 11 tháng 5 năm 2023 tại nơi cư trú được biết: ông T và bà T1 là vợ chồng, quá trình chung sống tại địa phương, ông T và bà T1 có phát sinh mâu thuẫn, cãi vã (Bút lục 33).
Tại phiên tòa: nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn vắng mặt.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: căn cứ vào các Điều 55, 57 và 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương nhận định:
[1] Về tố tụng: ông T khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bà T1 nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bà T1 có nơi cư trú tại ấp S, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử nhưng bị đơn vẫn vắng mặt, cố tình không đến Tòa án làm việc là chưa thực hiện đúng quy định về quyền và nghĩa vụ của bị đơn theo quy định pháp luật. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại các Điều 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: ông T và bà T1 tự nguyện kết hôn vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 07, quyển số 01/2012, ngày 13 tháng 01 năm 2012, quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông T1 là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Ông T yêu cầu ly hôn với bà T1 với lý do vợ chồng tính tình không hợp nhau, không có tiếng nói chung trong cuộc sống và cách nuôi dạy con. Bà T1 không quan tâm chăm sóc gia đình, vợ chồng không còn yêu thương nhau. Ông T và bà T1 phát sinh mâu thuẫn từ năm 2019 cho đến nay.
Qua xác minh tại chính quyền địa phương nơi nguyên đơn và bị đơn cư trú được biết: ông T và bà T1 là vợ chồng, quá trình chung sống tại địa phương, ông T và bà T1 có phát sinh mâu thuẫn, cãi vã (Bút lục 33).
Xét thấy, ông T và bà T1 phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình, mục đích sống chung không có ý nghĩa. Ông T và bà T1 không còn sống chung nên không có điều kiện hàn gắn tình cảm vợ chồng. Ông T yêu cầu ly hôn với bà T1 là có căn cứ để chấp nhận và phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về con chung: ông T và bà T1 có hai con chung tên Ngô Quỳnh A, sinh ngày 05 tháng 7 năm 2012 và Ngô Thị Huệ N, sinh ngày 18 tháng 7 năm 2016. Xét thấy, ông T2 có công việc ổn định và hiện nay hai con chung tên tên Ngô Quỳnh A và Ngô Thị Huệ N hiện nay đang sinh sống ổn định với ông T; cháu A và cháu N có nguyện vọng sống cùng ông T. Do đó, tiếp tục giao cháu A và cháu N cho ông T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên là chính đáng và phù hợp theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, ông T không yêu cầu bà T1 cấp dưỡng nuôi con hai con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Từ những phân tích nêu trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T đối với bị đơn bà T1 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở, phù hợp quy định của pháp luật.
Về án phí hôn nhân và gia đình: nguyên đơn phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; các Điều 227, 228, 271, 244 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 56; các Điều 57, 58, 81; khoản 2 Điều 82; các Điều 107, 110, 116, và 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Ngô Thanh T đối với bị đơn bà Nguyễn Thị T1 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
Về hôn nhân: ông Ngô Thanh T được ly hôn với bà Nguyễn Thị T1.
Về con chung: giao con chung tên Ngô Quỳnh A, sinh ngày 05 tháng 7 năm 2012 và Ngô Thị Huệ N, sinh ngày 18 tháng 7 năm 2016 cho ông Ngô Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Sau khi ly hôn, bà Nguyễn Thị T1 có quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Vì quyền và lợi ích hợp pháp của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình: ông Ngô Thanh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ hết vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp trước đây theo biên lai thu tiền số: AA/2021/0010218 ngày 09 tháng 5 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
3. Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Bàu Bàng; - Chi cục THADS huyện Bàu Bàng; - UBND xã Long Nguyên, huyện Bàu Bàng; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Minh Thảo |