- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ông Lê Văn H tranh chấp hợp đồng vay với bà Nguyễn Thị Thu Th"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn H về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bà Nguyễn Thị Thu Th.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 2 Luật thi hành án Biên bản nghị án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| HUYỆN THỦ THỪA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ___________________ Bản án số: 35/2023/DS-ST Ngày: 05-5-2023 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA - TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Quân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Nhị.
2. Ông Trịnh Thế Phương Nam.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hằng –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
Vào ngày 05 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 29/2023/TLST-DS ngày 01 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2023/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2023/QĐST-DS ngày 14 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm 1935; Địa chỉ: ấp 4, xã MP, huyện TT, tỉnh Long An.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu Th, sinh năm 1960; Địa chỉ: ấp 4, xã MP, huyện TT, tỉnh Long An.
(Ông H vắng mặt có đơn xin vắng mặt, bà Th vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 29/11/2022, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Lê Văn H trình bày:
Ông H hiện sống độc thân. Ông H và bà Nguyễn Thị Thu Th là chỗ quen biết do ở gần nhau.
Vào ngày 20/9/2020, ông H có cho bà Nguyễn Thị Thu Th vay số tiền 30.000.000 đồng, khi vay có làm giấy tay, bà Th viết giấy tay và ký tên vào giấy tay, mục đích vay để bà Th làm ăn, trong giấy vay tiền bà Th có ghi “ông H khi cần thu hồi vốn thì cho hay trước một tháng” là khi ông H cần lấy lại tiền trước thời hạn trả ghi trong giấy vay tiền thì báo cho bà Th trước 01 tháng để bà Th sắp xếp còn không thì căn theo thời hạn trả trong giấy vay tiền thì bà Th sẽ hoàn trả tiền vay cho ông H. Cùng ngày ông H giao số tiền trên cho bà Th. Bà Th hẹn ông H ngày 10/7/2021 sẽ trả cho ông H số tiền trên, lãi suất thỏa thuận 03%/tháng nhưng sau khi vay cho đến nay bà Th không trả tiền lãi cho ông H.
Vào ngày 10/3/2021 (âm lịch), ông H có cho bà Nguyễn Thị Thu Th vay số tiền 20.000.000 đồng, khi vay có làm giấy tay, bà Th viết giấy tay và ký tên vào giấy tay, mục đích vay để bà Th làm ăn, trong giấy vay tiền bà Th có ghi “khi cần thu hồi vốn thì cho hay trước một tháng” là khi ông H cần lấy lại tiền trước thời hạn trả ghi trong giấy vay tiền thì báo cho bà Th trước 01 tháng để bà Th sắp xếp còn không thì căn theo thời hạn trả trong giấy vay tiền thì bà Th sẽ hoàn trả tiền vay cho ông H. Cùng ngày ông H giao số tiền trên cho bà Th. Bà Th hẹn ông H ngày 10/7/2021 sẽ trả cho ông H số tiền trên, lãi suất thỏa thuận 03%/tháng nhưng sau khi vay cho đến nay bà Th không trả tiền lãi cho ông H.
Đến hẹn bà Th không trả nợ cho ông H, cố tình lánh mặt ông H.
Ông H xác định chỉ yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu Th trả cho ông số tiền nợ 50.000.000 đồng, ngoài ra không yêu cầu ai liên đới với bà Th trả cho ông H số tiền 50.000.000 đồng này.
Do đó nay ông H khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu Th có trách nhiệm hoàn trả cho ông H số tiền vay là 50.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu Th vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, không có bản tự khai.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án có tiến hành thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng cho bà Nguyễn Thị Thu Th, thông báo cho bà Th biết Tòa án có thụ lý vụ án tranh chấp hợp đồng vay theo đơn khởi kiện của ông H nhưng bà Th không có ý kiến bằng văn bản gửi đến Tòa án về việc khởi kiện của ông H.
Vụ án được Tòa án tiến hành hòa giải nhưng bà Th vắng mặt. Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa đưa vụ án ra xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Ông Lê Văn H khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu Th có trách nhiệm hoàn trả số tiền vay là 50.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Bà Nguyễn Thị Thu Th có hộ khẩu thường trú tại xã MP, huyện TT, tỉnh Long An. Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa giải quyết theo thủ tục sơ thẩm. Căn cứ theo yêu cầu của đương sự xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải theo quy định tại Điều 205 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng không tiến hành hoà giải được do bị đơn vắng mặt. Vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.
Tại phiên tòa vắng mặt bà Nguyễn Thị Thu Th nhưng xét thấy bà Th đã được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, về phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, về thời gian xét xử sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt. Tại phiên tòa vắng mặt ông Lê Văn H nhưng ông H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với ông H, bà Th là phù hợp với Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ông Lê Văn H chỉ yêu cầu một mình bà Th hoàn trả tổng số tiền vay 50.000.000 đồng, không yêu cầu ai liên đới với bà Th trả tổng số tiền vay 50.000.000 đồng này nên Tòa án không đưa thêm người tham gia tố tụng trong vụ án.
Về nội dung tranh chấp:
Ông Lê Văn H khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu Th có trách nhiệm hoàn trả tổng số tiền vay 50.000.000 đồng.
Xét lời trình bày và yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
Vào ngày 20/9/2020, ông H có cho bà Nguyễn Thị Thu Th vay số tiền 30.000.000 đồng, khi vay có làm giấy tay, bà Th viết giấy tay và ký tên vào giấy tay, mục đích vay để bà Th làm ăn, trong giấy vay tiền bà Th có ghi “ông H khi cần thu hồi vốn thì cho hay trước một tháng” là khi ông H cần lấy lại tiền trước thời hạn trả ghi trong giấy vay tiền thì báo cho bà Th trước 01 tháng để bà Th sắp xếp còn không thì căn theo thời hạn trả trong giấy vay tiền thì bà Th sẽ hoàn trả tiền vay cho ông H. Cùng ngày ông H giao số tiền trên cho bà Th. Bà Th hẹn ông H ngày 10/7/2021 sẽ trả cho ông H số tiền trên, lãi suất thỏa thuận 03%/tháng nhưng sau khi vay cho đến nay bà Th không trả tiền lãi cho ông H.
Vào ngày 10/3/2021 (âm lịch), ông H có cho bà Nguyễn Thị Thu Th vay số tiền 20.000.000 đồng, khi vay có làm giấy tay, bà Th viết giấy tay và ký tên vào giấy tay, mục đích vay để bà Th làm ăn, trong giấy vay tiền bà Th có ghi “khi cần thu hồi vốn thì cho hay trước một tháng” là khi ông H cần lấy lại tiền trước thời hạn trả ghi trong giấy vay tiền thì báo cho bà Th trước 01 tháng để bà Th sắp xếp còn không thì căn theo thời hạn trả trong giấy vay tiền thì bà Th sẽ hoàn trả tiền vay cho ông H. Cùng ngày ông H giao số tiền trên cho bà Th. Bà Th hẹn ông H ngày 10/7/2021 sẽ trả cho ông H số tiền trên, lãi suất thỏa thuận 03%/tháng nhưng sau khi vay cho đến nay bà Th không trả tiền lãi cho ông H. Từ đó đến nay bà Th không trả tiền gốc và lãi cho ông H.
Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Thu Th vắng mặt. Theo xác nhận của Công an xã MP, huyện TT ngày 02/8/2022 và ngày 29/11/2022, xác nhận bà Nguyễn Thị Thu Th có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại ấp 4, xã MP, huyện TT, tỉnh Long An. Toà án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên toà và các chứng cứ mà bên nguyên đơn cung cấp, bà Th đã được thông báo đầy đủ thông tin về vụ kiện và quá trình giải quyết vụ án của Toà án nhưng vẫn vắng mặt là không chấp hành thông báo của Toà án, đồng thời mặc nhiên thừa nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chứng cứ bên nguyên đơn cung cấp.
Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào giấy mượn tiền ngày 20/9/2020 và ngày 10/3/2021 (âm lịch) buộc bà Th có trách nhiệm hoàn trả cho ông H số tiền vay 50.000.000 đồng là phù hợp theo quy định tại Điều 463, 465, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Ông H không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thu Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về lệ phí, án phí Tòa án.
Do ông Lê Văn H thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí Tòa án và có Đơn xin miễn nộp cho nên không thực hiện việc hoàn lại tạm ứng án phí cho ông H.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, 228, 266, 267, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, 465, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về lệ phí, án phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn H về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bà Nguyễn Thị Thu Th.
Buộc bà Nguyễn Thị Thu Th có trách nhiệm hoàn trả cho ông Lê Văn H số tiền vay 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị Thu Th phải nộp 2.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An, - VKSND huyện Thủ Thừa, - Chi cục THA huyện Thủ Thừa, - Các đương sự, - Lưu HS, - Lưu án văn. TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN THỦ THỪA TỈNH LONG AN BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi giờ phút, ngày 12 tháng 9 năm 2022 Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Diễm Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Năm 7 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa: 1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm: 1961 thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền: ông Phạm Minh Tâm, sinh năm: 1965 Chí Minh Văn bản ủy quyền ngày: 08/01/2022 (vắng mặt). 2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu Th, sinh năm: 1970 1977 tụng tại phiên tòa. 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, 465, 466, 468, 471Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về lệ phí, án phí Tòa án. Tuyên xử: đồng vay tài sản” đối với bà Nguyễn Thị Thu Th. tiền vay 206.720.000 đồng (hai trăm lẻ sáu triệu, bảy trăm hai mươi ngàn đồng) và tiền lãi 39.291.256 đồng (ba mươi chín triệu, hai trăm chín mươi mốt ngàn, hai trăm năm mươi sáu đồng), tổng cộng số tiền 246.011.256 đồng (hai trăm bốn mươi sáu triệu, không trăm mười một ngàn, hai trăm năm mươi sáu đồng). hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015. đồng án phí dân sự sơ thẩm. án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án. dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Hội đồng xét xử sơ thẩm sau khi nghị án thống nhất biểu quyết 3/3. Nghị án kết thúc lúc giờ phút, ngày 12 tháng 9 năm 2022. nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Văn Năm Phạm Quốc Tuấn | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên toà Nguyễn Đức Quân Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc Ông Phạm Quốc Tuấn Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số: 123/2022/TLST-DS ngày 06 tháng Địa chỉ: số 132 Liên khu 5-6 phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân, Địa chỉ: 125/75 Bùi Đình Túy phường 24 quận Bình Thạnh thành phố Hồ Địa chỉ: ấp Bà Mía xã Mỹ Lạc huyện Thủ Thừa tỉnh Long An (vắng mặt). 3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Loan, sinh năm: Địa chỉ: ấp Bà Mía xã Mỹ Lạc huyện Thủ Thừa tỉnh Long An (vắng mặt). Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, 266, 267, Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn H về việc “Tranh chấp hợp Buộc bà Nguyễn Thị Thu Th có trách nhiệm hoàn trả cho ông Lê Văn H số Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị Thu Th phải nộp 12.300.000 Án xử sơ thẩm công khai, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thùy Diễm |