vanban.org

Bản án 35/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu về tiền gốc của nguyên đơn.

1/ Buộc anh anh Vũ Đức K và chị Vũ Thị Ngọc T phải liên đới trả cho chị Nguyễn Thị P và anh Hoàng Trung N tổng số tiền: 20.000.000đồng Kể từ ngày chị Nguyễn Thị P và anh Hoàng Trung N có đơn yêu cầu thi hành án, hàng tháng anh anh Vũ Đức K và chị Vũ Thị Ngọc T phải liên đới chịu lãi suất theo mức lã… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu về tiền gốc của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC LINH
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2023/DS-ST
Ngày: 27/4/2023
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH - TỈNH BÌNH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Thuận.

Các hội thẩm nhân dân:

1.Bà Huỳnh Thị Thúy Nga

2.Ông Lê Hoàng Phúc

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Bùi Chí Bảo -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tham gia phiên Tòa: ông Cao Quốc Thuận– Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 04 năm 2023, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý: 262/2022/TLST-DS, ngày 13 tháng 10 năm 2022, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2023/QĐXX-DS, ngày 28 tháng 03 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 32/2023/QĐST-DSST, ngày 12/04/2023 giữa:

1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị P, sinh năm: 1981

Nơi cư trú: tổ 1, thôn 10, xã Đức Tín, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

2. Bị đơn:

2.1 Vũ Đức K, sinh năm: 1974

2.2 Vũ Thị Ngọc T, sinh năm: 1975

Nơi cư trú: số 376, đường cây sung- bến đò, thôn 9, xã Đức Tín, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

3.Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Hoàng Trung N, sinh năm: 1973

Người đại diện theo ủy quyền của anh N: Nguyễn Thị P, sinh năm: 1981

Cùng nơi cư trú: tổ 1, thôn 10, xã Đức Tín, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 27/3/2023; bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, biên bản ghi lời khai, biên bản không hòa giải có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn trình bày:

Do sinh sống cũng xã Đức Tín, nên chị có quen biết với anh Vũ Đức K và chị Vũ Thị Ngọc T nên vào ngày 01/01/2015, anh K, chị T có đến nhà chị để hỏi vay 20.000.000đồng. Khi anh K, chị T vay tiền của chị, thì không nói vay tiền dùng mục đích để làm gì nên chị không biết mục đích vay tiền. Khi chị cho vay, thì giấy vay đều do anh K, chị T viết; còn thời hạn vay là thỏa thuận là 24 tháng; tuy trong giấy vay không ghi lãi suất nhưng hai bên thỏa thuận bằng miệng là 1 %/tháng. Sau khi hết thời hạn thì chị có xuống nhà đòi anh chị nhiều lần, nhưng anh chị đều khất nợ. Do số tiền ít nên chị cũng không đòi nợ nữa. Nay thời gian vay đã lâu chị có xuống nhà anh K, chị T để đòi tiền gốc và lãi như đã thỏa thuận, nhưng đến nhiều lần đều thấy nhà anh chị đóng cửa nên không gặp được anh chị, sau đó chị mới biết anh K, chị T do nợ nhiều người đã đóng cửa nhà, bỏ đi đâu không biết. Chị có hỏi hàng xóm thì được biết anh K, chị T đã bỏ đi đâu không rõ từ năm 2021 hoặc năm 2022. Hiện tại không biết bỏ đi đâu, không rõ địa chỉ. Nay chị yêu cầu anh K, chị T phải trả cho chị số tiền gốc là 20.000.000đồng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh phát biếu ý kiến như sau:

-Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.

-Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.

- Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay thì nguyên đơn, người liên quan đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn đã được Tòa án niêm yết công khai. Vì vậy xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

-Về nội dung vụ án:

Quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thì đây là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Về tiền gốc: Buộc anh Vũ Đức K và chị Vũ Thị Ngọc T phải trả cho chị Nguyễn Thị P và Hoàng Trung N số tiền gốc 20.000.000đồng

Về án phí DSST: Anh Vũ Đức K và chị Vũ Thị Ngọc T phải chịu án phí DSST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, những lời khai được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của nguyên đơn, bị đơn và Kiểm Sát Viên tại phiên tòa;

[1]Về thủ tục tố tụng: Kể từ ngày Tòa án nhân dân huyện Đức Linh thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã thực hiện đúng quy định về việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự được quy định tại chương X Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị Nguyễn Thị P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 27/03/2023. Hội đồng xét xử xét thấy rằng nội dung và hình thức của đơn đề nghị xét xử vắng mặt là đúng theo quy định của pháp luật và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt nguyên đơn là đúng pháp luật.

Đối với bị đơn anh Vũ Đức K và chị Vũ Thị Ngọc T: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ và có đủ căn cứ chứng minh vào thời gian này, bị đơn có hộ khẩu thường trú số số 376, đường cây sung- bến đò, thôn 9, xã Đức Tín, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.Tuy nhiên sau khi vay tiền của chị P thì anh, chị đã bỏ đi từ năm 2020. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật

Căn cứ vào khoản 3 Điều 40 Bộ luật dân sự: “Trường hợp một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn liền với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới”

Từ tất cả các phân tích và các quy định của pháp luật ở trên đã chứng minh anh anh Vũ Đức K và chị Vũ Thị Ngọc T cố tình dấu địa chỉ, nơi cư trú của mình. Căn cứ vào điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn là đúng pháp luật.

Xác định mối quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện đề ngày 25/07/2022 và các tài liệu chứng cứ cũng như lời khai của các đương sự, Tòa án xác định đây là vụ án: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận theo quy định tại khoản 1, Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu của nguyên đơn: Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và các tài liệu Tòa án thu thập có trong hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc khởi kiện anh Vũ Đức K và chị Vũ Thị Ngọc T là bị đơn trong việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Xét về giấy vay tiền ghi ngày 01/01/2015

-Đối với giấy vay tiền ghi ngày 01/01/2015 (bút lục 05): giấy vay tiền này là chữ ký và chữ viết của anh Vũ Đức K và chị Vũ Thị Ngọc T, trong giấy vay có địa chỉ rất rõ của anh Vũ Đức K và chị Vũ Thị Ngọc T cũng như thỏa thuận về số tiền vay, thời hạn cho vay. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về tiền vay gốc là có căn căn cứ để chấp nhận. Vì vậy Hội đồng xét xử buộc anh Vũ Đức K và chị Vũ Thị Ngọc T phải liên đới trả cho chị Nguyễn Thị P và anh Hoàng Trung N tổng số tiền 20.000.0000đồng là đúng quy định của pháp luật.

Về tiền lãi:

Trong giấy vay tiền mà hai bên đã ghi ngày 01/01/2015 không ghi nội dung thỏa thuận về lãi suất, tuy nhiên nguyên đơn khẳng định có thỏa thuận lãi suất 1%/tháng, nhưng bị đơn chưa trả tiền lãi. Ngoài ra trong vụ án này nguyên đơn không yêu cầu tính lãi. Vì vậy Hội đồng xét xử không cần phải xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận về tiền gốc và tiền lãi. Vì vậy cần buộc bị đơn phải chịu toàn bộ án phí DSST theo quy định của pháp luật

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận. Vì vậy nguyên đơn không phải chịu án phí DSST.

Về áp dụng án lệ: Nghiên cứu các bản án lệ do TAND tối cao công bố, không có vụ án nào tương tự như vụ án đang được xét xử. Vì vậy, HĐXX không áp dụng án lệ mà chỉ căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết.

Xét ý kiến của Kiểm Sát Viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật.

Phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nội dung vụ án.Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm này.

Bởi các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 và khoản 1, điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228, Điều 264, 266, 267 khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ khoản 3 Điều 40, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Căn cứ Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014;

- Căn cứ Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu về tiền gốc của nguyên đơn.

1/ Buộc anh anh Vũ Đức K và chị Vũ Thị Ngọc T phải liên đới trả cho chị Nguyễn Thị P và anh Hoàng Trung N tổng số tiền: 20.000.000đồng

Kể từ ngày chị Nguyễn Thị P và anh Hoàng Trung N có đơn yêu cầu thi hành án, hàng tháng anh anh Vũ Đức K và chị Vũ Thị Ngọc T phải liên đới chịu lãi suất theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc anh Vũ Đức K và chị Vũ Thị Ngọc T phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm 1.000.000đồng án phí DSST.Án phí nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh.

Hoàn trả cho chị Nguyễn Thị P số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 950.000đồng trong biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012479, ngày 13/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh.

3/Về quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yến công khai để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

4/ Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thị hành án dân sự, sửa đổi bổ sung năm 2014, thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, sửa đổi bổ sung năm 2014. Thời hiệu thị hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự, sửa đổi bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ