vanban.org

Bản án 35/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C Việt Nam.

Buộc ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị P phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng C Việt Nam số tiền nợ gốc là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng), lãi trong hạn là 9.278.687 đồng, lãi quá hạn 2.251.449 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi là 51.530.136 đồng (Năm mươi mốt triệu, năm trăm ba mươi nghìn, một t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "xét xử"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C Việt Nam.
  • Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 11 Nghị định số 16/2003/NĐ-CP Về việc thành lập thị trấn thuộc…; Điều 13 Nghị định số 78/2002/NĐ-CP Về tín dụng đối với người nghèo v…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK SONG
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2023/DS-ST
Ngày 06/9/2023
“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂNHUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hà;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Thanh Huệ và ông Nguyễn Đình Liên

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Lâm Oanh– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Song;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Song xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 102/2023/TLST- DS ngày 29 tháng 5 năm 2023 về "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2023/QĐXXST- DS ngày 01 tháng 8 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 77/2023/QĐST-DS ngày 18/8/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng C Việt Nam

Trụ sở: Số 169, phố Đ, phường H, quận M, TP. Hà Nội.

Người đại diện hơp pháp của nguyên đơn: Bà Doãn Nguyễn T – chức vụ: Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng C huyện Đ; là người đại diện theo ủy quyền, theo quyết định ủy quyền số 7300/QĐ-NH ngày 19/9/2019 của Tổng giám đốc Ngân hàng C Việt Nam – Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Tổ 1, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

2. Bị đơn: Ông Trần Văn T - Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông

3. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị P - Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 26 tháng 5 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bà Doãn Nguyễn T người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị P vay vốn tại Ngân hàng C Việt Nam – Phòng giao dịch huyện Đ, trên cơ sở sổ vay vốn số mã khách hàng 70814463xx và sổ lưu theo dõi cho vay- thu nợ và dư nợ mã món vay là 66000007104236xx ngày 07/6/2017 với số tiền gốc là 40.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 0,66%/ tháng, lãi suất quá hạn là 0,858%/ tháng, mục đích vay vốn là mua máy móc phục vụ nông nghiệp, chương trình cho vay theo diện hộ cận nghèo, thời hạn vay 36 tháng, kỳ hạn trả nợ 12 tháng/ lần; hạn trả cuối cùng vào ngày 07/6/2020. Chuyển nợ quá hạn từ ngày 22/4/2021. Qúa trình thực hiện hợp đồng ông T và bà P không trả lãi cũng như gốc. Qua liên hệ địa phương biết gia đình ông T và bà P đã đi khỏi địa phương từ tháng 8/2019 đến nay không rõ địa chỉ. Vì vậy, để có căn cứ khởi kiện, Ngân hàng C Việt Nam – Phòng giao dịch huyện Đ đã làm thủ tục thông báo tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông T và bà P trên Đài tiếng nói Việt Nam (03 số liên tiếp), nhưng vẫn không có tin tức. Căn cứ quy định pháp luật thì trường hợp này cố tình giấu địa chỉ. Do đó để đảm bảo quyền lợi cho Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc:

Ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị P phải trả số tiền nợ tiền gốc: 40.000.000 đồng; lãi trong hạn là 9.278.687 đồng; lãi quá hạn 2.251.449 đồng; thời hạn tính lãi đến ngày 06/9/2023.

Kể từ ngày 07/9/2023, ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị P tiếp tục phải chịu lãi suất phát sinh theo thỏa thuận như hai bên ký kết theo sổ vay vốn số mã khách hàng 70814463xx và sổ lưu theo dõi cho vay - thu nợ và dư nợ mã món vay là 66000007104236xx ngày 07/6/2017 tương ứng với thời gian và số tiền gốc chậm trả cho đến khi thi hành án xong.

Bị đơn ông Trần Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị P: Trong quá trình giải quyết vụ án, qua xác minh tại địa phương xác định cả hộ gia đình ông T hiện nay không có mặt tại địa phương, đi đâu không báo nên địa phương không biết đi đâu làm gì. Vì vậy, Ngân hàng C Việt Nam – Phòng giao dịch huyện Đ đã làm thủ tục thông báo tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông T và bà P trên Đài tiếng nói Việt Nam (03 số liên tiếp) và tiến hành niêm yết các biên bản tố tụng theo quy định. Tuy nhiên, ông T và bà P không đến Tòa án làm việc. Tòa án nhân dân huyện Đắk Song tiến hành các thủ tục theo Bộ luật tố tụng dân sự quy định và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký từ khi thụ lý giải quyết vụ án đến khi xét xử đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành theo quy định về quyền và nghã vụ của đương sự.

- Về nội dung: Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1, 4 Điều 91; khoản 2 Điều 92; Điều 93, khoản 1 Điều 96, Điều 143; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 90, 91, 94 và Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Căn cứ Điều 13, 15, 16, 17, 18 của Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác.

Căn cứ Điều 5, 7, 8, 11 Nghị định số 16/2003/NĐ-CP ngày 22/01/2003 về việc phê duyệt Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng C.

Đề nghị: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị P phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng C Việt Nam số tiền nợ gốc là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng), nợ lãi trong hạn là 9.278.687 đồng; lãi quá hạn 2.251.449 đồng, thời hạn tính lãi đến ngày 06/9/2023.

Kể từ ngày 07/9/2023, ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị P tiếp tục phải chịu lãi suất phát sinh theo thỏa thuận như hai bên ký kết theo sổ vay vốn số mã khách hàng 70814463xx và sổ lưu theo dõi cho vay - thu nợ và dư nợ mã món vay là 66000007104236xx ngày 07/6/2017 tương ứng với thời gian và số tiền gốc chậm trả cho đến khi thi hành án xong.

Về các vấn đề khác đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ý kiến khắc phục khác: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

1.Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Ngân hàng C Việt Nam khởi kiện yêu cầu ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị P phải trả số tiền nợ gốc là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) và lãi suất theo quy định. Hiện nay, ông T và bà P có đăng ký hộ khẩu tại xã H. Vì vậy, Quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “ Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được quy định khoản 1 Điều 26 BLTTDS và thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông theo điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn căn cứ kết quả xác minh hiện nay bị đơn không còn sinh sống tại địa phương nên để có căn cứ giải quyết vụ án, Ngân hàng đã thông báo nhắn tin tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú. Tòa án tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 173, Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị P không chấp hành. Vì vậy, Tòa án lập các biên bản theo Bộ luật tố tụng dân sự quy định và quyết định xét xử vắng mặt các đương sự trong vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc bị đơn không chấp hành pháp luật được coi tự ý từ bỏ quyền được tham gia tố tụng, quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình quy định tại Điều 6, Điều 70, Điều 72 của BLTTDS

Xét nội dung tranh chấp:

Căn cứ sổ vay vốn số mã khách hàng 70814463xx và sổ lưu theo dõi cho vay- thu nợ và dư nợ mã món vay là 66000007104236xx ngày 07/6/2017, khoản vay trên ông T và bà P đã để quá hạn, Ngân hàng đã thông báo thu hồi nợ nhiều lần nhưng không có kết quả; hiện nay khoản vay này đã được Ngân hàng chuyển sang nợ quá hạn. Số tiền vay này về mua máy móc phục vụ nông nghiệp. Qúa trình vay vốn ông T và bà P không trả như hợp đồng thể hiện. Hiện gốc và lãi còn lại không trả, đi khỏi địa phương nhằm trốn nghĩa vụ trả nợ. Tính đến ngày xét xử ông T và bà P còn nợ Ngân hàng C Việt Nam số tiền gốc là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) lãi trong hạn là 9.278.687 đồng, lãi quá hạn 2.251.449 đồng, thời hạn tính lãi tính đến ngày 06/9/2023. Tổng cộng cả gốc và lãi là 51.530.136 đồng (Năm mươi mốt triệu, năm trăm ba mươi nghìn, một trăm ba mươi sáu đồng). Nên yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C Việt Nam là có căn cứ nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng (có bảng tính lãi cụ thể nộp cho Tòa án đến ngày xét xử).

Kể từ ngày 07/9/2023, ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị P tiếp tục phải chịu lãi suất phát sinh theo thỏa thuận như hai bên ký kết theo sổ vay vốn số mã khách hàng 70814463xx và sổ lưu theo dõi cho vay - thu nợ và dư nợ mã món vay là 66000007104236xx ngày 07/6/2017 tương ứng với thời gian và số tiền gốc chậm trả cho đến khi thi hành án xong.

Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và đúng pháp luật nên được chấp nhận.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn, người liên quan phải chịu án toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 51.530.136 đồng x 5% = 2.576.506 đồng.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1, 4 Điều 91; khoản 2 Điều 92; Điều 93, khoản 1 Điều 96, Điều 143; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 90, 91, 94 và Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Căn cứ Điều 13, 15, 16, 17, 18 của Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác.

Căn cứ Điều 5, 7, 8, 11 Nghị định số 16/2003/NĐ-CP ngày 22/01/2003 về việc phê duyệt Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng C.

Tuyên xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C Việt Nam.

Buộc ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị P phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng C Việt Nam số tiền nợ gốc là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng), lãi trong hạn là 9.278.687 đồng, lãi quá hạn 2.251.449 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi là 51.530.136 đồng (Năm mươi mốt triệu, năm trăm ba mươi nghìn, một trăm ba mươi sáu đồng), thời hạn tính lãi đến ngày 06/9/2023.

Kể từ ngày 07/9/2023, ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị P tiếp tục phải chịu lãi suất phát sinh theo thỏa thuận như hai bên ký kết theo sổ vay vốn số mã khách hàng 70814463xx và sổ lưu theo dõi cho vay - thu nợ và dư nợ mã món vay là 66000007104236xx ngày 07/6/2017 tương ứng với thời gian và số tiền gốc chậm trả cho đến khi thi hành án xong.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị P phải nộp 2.576.506 đồng (Hai triệu, năm trăm bảy mươi sáu nghìn, năm trăm linh sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm; Ngân hàng C Việt Nam được miễn nộp tạm ứng án phí nên không đề cập giải quyết.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong bản án trong thời hạn 15 ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ