vanban.org

Bản án 35/2023/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 29/09/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/09/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận m t phần n i dung yêu cầu h i iện của nguyên đơn

1. Bu c ông Lê Doãn Đ phải trả lại cho bà Nguyễn Thị M diện tích đất 540,2m2 (trong đó có 180m2 đất và 360,2m2 đất trồng cây lâu năm) thu c th a đất số 90 t bản đồ số 8 bản đồ địa chính năm 2012, địa ch : Thôn Y, ã T, huyện L, t nh Hà T nh 2. Tạm giao cho bà Nguyễn Thị M được quyền s dụng diện tích … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyễn Thị Minh"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận m t phần n i dung yêu cầu h i iện của nguyên đơn
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Luật Đất đai; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2023/DS-PT
Ngày: 29-9-2023
V/v đòi lại tài sản là QSD đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Đức Quang

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Hà Ngân

Bà Nguyễn Thị Thương Huyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô hánh Chi - Thư T a án T a án nhân dân t nh Hà T nh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh: Ông Nguyễn Văn Quyết - iểm sát viên tham gia phiên t a

Trong các ngày 12 thánh 9 năm 2023 và ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại H i trư ng t T a án nhân dân t nh Hà T nh, m phiên t a t ph c th m công hai vụ án dân sự thụ l số: 18/2023/TLPT-DS ngày 13 tháng 6 năm 2023 về “Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra t

số 28/2023/QĐXX-PT ngày 03 tháng 8 năm 2023, Quyết định tạm ngừng phiên t a số 03/2023/QĐPT ngày 12 tháng 9 năm 2023 và Thông báo về việc tiếp tục phiên t a t ph c th m số 03/TB-TA ngày 18/9/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1965; nơi cư trú: Thôn Y, xã T, huyện L, t nh Hà T nh. Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

Ông Võ Hồng A, Sinh năm 1962; địa ch : Thôn Y, xã T, huyện L, t nh Hà T nh; nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã EaTok, huyện K, t nh Đăk Lăk . Vắng mặt ngày 12/9/2023, có mặt ngày 29/9/2023.

Ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1944; địa ch : Thôn B xã T, huyện L, t nh Hà T nh. Có mặt.

2. Bị Đơn: Ông Lê Doãn Đ, sinh năm 1973; địa ch : Thôn Y, xã T, huyện L, t nh Hà T nh. Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:

Ông Võ Minh C sinh năm 1950; địa ch : SN 06, ngõ 3, tổ 8, đư ng C, phư ng N, thành phố H, t nh Hà T nh. Có mặt.

Ông Phạm Văn B, sinh năm 1968; địa ch : Thôn T, xã P, huyện L, t nh Hà T nh. Có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Chị Võ Thị T, sinh năm 1975 (Vợ anh Lê Doãn Đ); địa ch : Thôn T, xã T, huyện L, t nh Hà T nh. Có mặt.

3.2. Bà Lê Thị L, sinh năm 1959; địa ch : Bản Sơn T, xã T, huyện K, t nh Nghệ An. Có mặt ngày 12/9/2023, vắng mặt ngày 29/9/2023.

3.3. UBND huyện L, t nh Hà T nh, đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn A, Chuyên viên phòng Tài nguyên – Môi trư ng huyện L, t nh Hà T nh Có mặt.

3.4. UBND xã T, huyện L, t nh Hà T nh, đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị Q, Công chức phụ trách địa chính ã T, huyện L, t nh Hà T nh Có mặt ngày 12/9/2023, vắng mặt ngày 29/9/2023.

4. Người làm chứng:

4.1. Ông Trần Quốc T, sinh năm 1953; tr tại: Thôn Yên Đ, xã T, huyện L, t nh Hà T nh Vắng mặt.

4.2. Bà Lê Thị T, sinh năm 1950; tr tại: Thôn Y, ã T, huyện L, t nh Hà T nh Có mặt ngày 12/9/2023, vắng mặt ngày 29/9/2023.

4.3. Bà Lê Thị S, sinh năm 1964; tr tại: Thôn Yên Đ, xã T, huyện L, t nh Hà T nh Có mặt ngày 12/9/2023, vắng mặt ngày 29/9/2023.

4.4. Ông Lê Doãn Đ, sinh năm 1973; tr tại: Thôn Y, ã T, huyện L, t nh Hà T nh Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 27/10/2022 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 28/02/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thống nhất trình bày:

Từ trước năm 2000 vợ chồng ông Võ Hồng Đ, bà Nguyễn Thị M khai hoang được m t th a đất, nay thu c th a đất số 90 t bản đồ số 8 bản đồ địa chính năm 2012, thôn Y, ã T, huyện L, t nh Hà T nh Năm 2000 vợ chồng bà M làm m t ngôi nhà tranh tre và sinh sống trên th a đất đó. Đến năm 2002 được chính quyền địa phương hỗ trợ inh phí nên ông Đ bà M xây được ngôi nhà như hiện nay Đến năm 2005, sau khi ông Đ (Chồng bà M) chết, bà M vẫn m t mình sinh sống trên th a đất từ đó đến nay Vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, sống m t mình nên bà M th nh thoảng phải đi làm ăn xa do đó ngôi nhà và mảnh vư n hông có ngư i trông coi (Vì vợ chồng bà M không có con) Lợi dụng l c bà M đi vắng thì vào năm 2018 ông Lê Doãn Đ đến chiếm dụng, ây tư ng rào bao quanh và canh tác trên th a đất

Nay bà Nguyễn Thị M yêu cầu T a án giải quyết bu c ông Lê Doãn Đ phải trả lại th a đất nói trên cho bà Nguyễn Thị M, đồng th i phải tháo dỡ toàn b tư ng rào và di d i cây cối mà ông Đ đã trồng trên đất của bà M.

* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lê Doãn Đ, đại diện theo ủy quyền của bị đơn, ông Võ Minh C, ông Phạm Văn B thống nhất trình bày:

Th a đất số 90 t bản đồ số 8 bản đồ địa chính năm 2012, thôn Y, xã T, huyện L, t nh Hà T nh có nguồn gốc trước đây là của bố mẹ ông Đ (Ông Lê Doãn X) hai hoang từ năm 1982 và đã làm m t ngôi nhà tạm (Dạng túp lều) sinh sống trên th a đất đó, Vì l do sức hỏe nên đến năm 1998 gia đình ông X chuyển về sống chung với gia đình con trai là ông Lê Doãn Đ, c n ngôi nhà vẫn để lại trên th a đất Đến năm 2000 sau hi vợ chồng ông Đ, bà M cưới nhau, hông có chổ nên ông X, bố ông Đ đã cho vợ chồng ông Đ mượn làm nhà để tạm hi cơ quan địa chính về đo đạc, vẽ bản đồ năm 2012, ghi tên ngư i s dụng đất là ông Võ Hồng Đ thì gia đình ông Đ hông biết Sau hi ông Đ chết thì bà M đi làm ăn xa, th nh thoảng mới về nên ông Đ ngh là bà Minh trả lại đất cho ông Đ và hông đó nữa Vì vậy, năm 2018, ông Đ đã đến ây tư ng rào ung quanh để quản l , s dụng th a đất hi bà M tr về thấy ông Đ đã xây tư ng rào nhưng bà M cũng hông có iến gì hi bà M ây dựng nhà mới, cũng như khi đo vẽ bản đồ năm 2012 thì gia đình ông Đ hông ai biết, vì vợ chồng ông Đ đi làm ăn xa.

Nay bà Nguyễn Thị M đ i lại th a đất nói trên thì ông Lê Doãn Đ và bà Võ Thị T hông nhất trí, yêu cầu T a án bác yêu cầu h i iện của bà nguyễn Thị M để trả lại th a đất cho ông Lê Doãn Đ.

* Người có QLNV liên quan, bà Võ Thị T trình bày: Bà T nhất trí như ý kiến trình bày của bị đơn và ngư i đại diện theo ủy quyền của bị đơn. Ngoài ra bà T còn trình bày thêm là khi vợ chồng bà M đến mượn đất để làm nhà tạm thì bà và ông Đ không nhất trí nhưng ông X (Bố ông Đ) vẫn cho vợ chồng bà M mượn.

* Người có quyên lợi và ngĩa vụ liên quan Bà Lê Thị L trình bày: Vào khoảng năm 1995 khi bà mang thai đứa con thứ hai thì vợ chồng có mâu thu n nên bà L về quê ngoại để ch sinh con và được bố là ông Lê Doãn X cho trong túp lều trên th a đất hiện đang tranh chấp. Bà L sinh sống trên th a đất được khoảng 02 tháng thì chồng bà L vào đón về quê n i. Bà L cho rằng th a đất đó nguồn gốc là của ông Lê Doãn X và đã giao lại cho ông Đ s dụng. Nay bà L yêu cầu tòa án bác yêu cầu kh i kiện của bà M để trả lại th a đất cho ông Lê Doãn Đ. Ngoài ra bà L không có yêu cầu gì thêm.

* Đại diện UBND huyện L và UBND xã T, huyện L thống nhất trình bày:

Th a đất hiện đang tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị M và ông Lê Doãn Đ có nguồn gốc là đất Hợp tác xã T quản lý. Vào khoảng th i gian năm 2000 thì vợ chồng ông Võ Hồng Đ và bà Nguyễn Thị M đến tạo lập, dựng m t ngôi nhà tranh sinh sống trên th a đất. Đến năm 2002, thực hiện chính sách xóa nhà tranh tre, gia đình bà M được chính quyền địa phương hỗ trợ xây lại ngôi nhà như hiện nay. Th a đất tranh chấp nằm trong th a đất số 277 t bản đồ số 02 bản đồ 299, nay thu c th a đất số 90 t bản đồ số 8 bản đồ địa chính năm 2012, thôn Yên Điềm, xã T, huyện L, t nh Hà T nh, mang tên ngư i s dụng đất là Võ Hồng Đ. Th a đất thu c loại đất vư n, , nằm trong quy hoạch khu dân cư, hiện tại vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền s dụng đất, nếu không có tranh chấp thì đủ điều kiện để xét cấp giấy chứng nhận quyền s dụng đất. Nay yêu cầu T a án giải quyết theo quy định của pháp luật

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã cấp sơ th m tiến hành xác minh thu thập chứng cứ tại chính quyền địa phương, đồng th i ghi l i khai của m t số ngư i làm chứng, kết quả như sau: Th a đất tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị M và ông Lê Doãn Đ có nguồn gốc là của Hợp tác xã T quản lý. Từ khoảng năm 2000 tr về trước, th a đất không có ai s dụng; chưa có ai làm nhà sinh sống trên đó. Đến năm 2000 vợ chồng ông Đ bà M đến làm nhà sinh sống trên th a đất từ đó đến nay. Từ khi vợ chồng bà M đến làm nhà sinh sống trên th a đất đến nay, chính quyền địa phương biết nhưng không có ý kiến gì. Theo hồ sơ địa chính (Trích sao dổ mục kê và trích lục bản đồ 299) mà Văn phòng đăng ký quyền s dụng đất Chi nhánh L, T cung cấp thì th a đất tranh chấp nằm trong th a đất số 277 t bản đồ số 02 bản đồ 299 thôn Y, xã T, huyện L, t nh Hà T nh không thể hiện tên cá nhân s dụng đất mà ghi “HTX”

Tại biên bản xác minh ngày 20/12/2022, ông Lê Công S, Trư ng thôn Y, xã T cho biết: Bà Nguyễn Thị M và ông Võ Hồng Đ, sau khi kết hôn thì về làm m t ngôi nhà tranh tre và sinh sống trên th a đất đó. Đến năm 2002, được chính quyền địa phương hỗ trợ xóa nhà tranh tre nên vợ chồng bà M đã xây dựng được ngôi nhà xây, lợp ngói như hiện nay. Quá trình sinh sống tại địa phương, gia đình bà M được hư ng mọi chế đ cũng như thực hiện đầy đủ ngh a vụ của mình đối với chính quyền địa phương. Ngoài ra ông Lê Công S còn cung cấp: Vợ chồng ông Đ, bà M không có con chung, con riêng, con nuôi; sau khi ông Đ chết thì bà M sống m t mình trên th a đất đến nay.

Trên cơ s đơn yêu cầu của các đương sự, Tòa án cấp ơ th m đã tiến hành xen xét th m định tại chổ, kết quả đã xác định được th a đất tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị M và ông Lê Doãn Đ có thông tin như sau: Th a đất tranh chấp thu c th a đất số 277 t bản đồ số 02 bản đồ 299, nay thu c th a đất số 90 t bản đồ số 8 bản đồ địa chính năm 2012, thôn Y, xã T, huyện L, t nh Hà T nh, có diện tích đo đạc thực tế là 840,2m2; th a đất có các tứ cận: Phía Bắc giáp đư ng trục thôn; phía Nam giáp đất bà Lê Thị L; phía Đông giáp đất anh Lê Doãn Đ; phía Tây giáp tư ng rào anh Lê Doãn Đ.

Trên th a đất có: 01 ngôi nhà của bà Nguyễn Thị M, xây gạch táp lô, lợp ngói đỏ, diện tích 27m2, ngôi nhà xây dựng năm 2002; hệ thống tư ng rào xây bao quanh, về phía bắc, phía nam và phía đông do ông Lê Doãn Đ xây vào năm 2018 và m t số cây keo, cây phi lau và cây xoan.

Hệ thống tư ng rào xây về phía tây th a đất, nguyên đơn, bị đơn đều thừa nhận là của ông Lê Doãn Đ xây trên phần đất hiện nay ông Đ đang s dụng, không có tranh chấp.

Toàn bộ tài sản trên thửa đất tranh chấp và đất đã được Công ty cổ phần thẩm định giá và giám định Tiên Phong, xác định:

Th a đất số 90 t bản đồ số 8 bản đồ địa chính năm 2012 thôn Y, xã T, huyện L, t nh Hà T nh có đơn giá là 2.000.000 đồng/m2;

01 ngôi nhà cấp 4, giá trị còn lại là 10.292.400 đồng;

Hệ thống tư ng rào xây 03 phía do ông Đàn xây có giá là 11.128.344 đồng;

07 cây keo, cây phi lau, cây xoan, trị giá 165.000 đồng.

Với nội dung trên tại Bản án dân sự sơ thẩm số 2 2 23 S-ST ngày 2 -4-2023 của Tòa án nhân dân huyện L quyết định:

Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 147, Điều 228, Điều 229, Điều 235 và Điều 273 B luật Tố tụng dân sự; Điều 164, Điều 166 B luật Dân sự; Điều 203 Luật Đất đai 2013, tuyên :

1. Chấp nhận toàn b n i dung yêu cầu h i iện của nguyên đơn

1.1. Bu c ông Lê Doãn Đ phải trả lại cho bà Nguyễn Thị M th a đất số 90 t bản đồ số 8 bản đồ địa chính năm 2012, thông Y, ã T, huyện L, t nh Hà T nh

1.2. Tạm giao cho bà Nguyễn Thị M được quyền s dụng th a đất số 90 t bản đồ số 8 bản đồ địa chính năm 2012, thông Y, ã T, huyện L, t nh Hà T nh, diện tích 840,2m2, th a đất có giáp ranh, tứ cận như sau:

Phía bắc giáp đư ng trục thôn;

Phía nam giáp đất bà Lê Thị L;

Phía đông giáp đất anh Lê Doãn Đ;

Phía tây giáp tư ng rào xây của gia đình anh Lê Doãn Đ.

(Có sơ đồ giao đất kèm theo bản án sơ thẩm)

Bà Nguyễn Thị M có ngh a vụ đến cơ quan có th m quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận QSD đất theo quy định của pháp luật.

1.3. Giao cho bà Nguyễn Thị M được quyền sở hữu:

- 01 ngôi nhà, xây gạch táp lô, lợp ngói đỏ, diện tích 27m2, trị giá: 10.292.400 đồng;

- Hệ thống tư ng rào xây bao quanh, ba phía (Phía bắc, phía nam và phía đồng), trị giá: 11.128.344 đồng;

- 04 cây keo, 01 cây phi lau và 02 cây xoan, trị giá 165.000 đồng.

1.4. Bà Nguyễn Thị M phải bồi thư ng cho ông Lê Doãn Đ số tiền chênh lệch tài sản là 11.293.300 đồng (Mười một triệu hai trăm chín ba ngàn ba trăm đồng).

Ngoài ra, án sơ th m c n tuyên án phí và quyền háng cáo của các đương sự theo quy định

- Ngày 04/5/2023, bị đơn ông Lê Doãn Đ háng cáo với n i dung: Nhận định của bản án sơ th m hông hách quan, hông công bằng nên kháng cáo toàn b n i dung bản án dân sự sơ th m số 02/2023/DSST ngày 20/4/2023 của T a án nhân dân huyện L. Yêu cầu T a án nhân dân t nh Hà T nh em t iểm tra, đối chiếu các căn cứ pháp luật về đất đai, về giao dịch dân sự và các quy định của pháp luật Hủy bản án số 02/2023/DSST ngày 20/4/2023 của T a án nhân dân huyện L Điều tra em t lại nguồn gốc đất, t đ ng pháp luật, đảm bảo quyền lợi ích cho bị đơn

Tại phiên t a ph c th m, bị đơn vẫn giữ nguyên n i dung háng cáo

Đại diện Viện iểm sát nhân dân t nh Hà T nh sau hi phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Th m phán, H i đồng t , Thư phiên t a và các đương sự đã phân tích đánh giá các chứng cứ của vụ án, quyết định của bản án sơ th m, n i dung đơn háng cáo của nguyên đơn và đề nghị H i đồng t áp dụng hoản 2 Điều 308, hoản 2 Điều 309 của B luật tố tụng dân sự chấp nhận m t phần n i dung háng cáo của bị đơn. S a bản án sơ th m số 02/2023/DS-ST ngày 20-4-2023 của T a án nhân dân huyện L c Hà, t nh Hà T nh: Bu c ông Lê Doãn Đ trả lại cho bà Nguyễn Thị M 540,2m2 đất, thu c th a đất số 90 t bản đồ số 8 bản đồ địa chính năm 2012, địa ch : Thôn Y, ã T, huyện L, t nh Hà T nh. Tạm giao cho bà Nguyễn Thị M được quản l , s dụng phần diện tích đất trên Tạm giao cho ông Lê Doãn Đ được quyền quản l , s dụng phần diện tích đất 300m2, thu c th a đất số 90 t bản đồ số 8 bản đồ địa chính năm 2012, địa ch : Thôn Y, ã T, huyện L, t nh Hà T nh.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được th m tra tại phiên t a, căn cứ vào ết quả tranh luận tại phiên t a, trên cơ s em t đầy đủ, toàn diện chứng cứ, iến của iểm sát viên và các đương sự

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[I] Về tố tụng:

. Về việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Th a đất số 90 t bản đồ số 8 bản đồ địa chính năm 2012 tại thôn Y, xã T, huyện L, t nh Hà T nh, mang tên trong hồ sơ địa chính là ông Võ Hồng Đ. Năm 2018 ông Lê Doãn Đ xây tư ng rào bao quanh và s dụng. Bà Nguyễn Thị M (Vợ ông Đ) h i iện yêu cầu ông Lê Doãn Đ phải trả lại cho bà M th a đất nói trên. Vì vậy, T a án nhân dân huyện L xác định quan hệ pháp luật tranh chấp “Đòi lại tài sản là quyền s dụng đất” và thụ l giải quyết là đ ng th m quyền theo quy định tại hoản 9 Điều 26, điểm a, hoản 1 Điều 35, điểm a hoản 1 Điều 39 B luật tố tụng dân sự năm 2015.

. Về thủ tục hòa giải tại cơ sở: Tại cấp ph c th m ngư i đại diện theo ủy quyền của bị đơn cho rằng cấp sơ th m tiến hành thụ l giải quyết vụ án hi chính quyền địa phương chưa tiến hành h a giải cơ s là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Tuy nhiên, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu do phía nguyên đơn và UBND xã Th cung cấp thể hiện, tranh chấp quyền s dụng đất giữa bà Nguyễn Thị M và ông Lê Doãn Đ đã được UBND ã T tiến hành h a giải 02 lần, Lần thứ nhất vào ngày 17/01/2018 với sự có mặt của bà Nguyễn Thị M, ông Lê Doãn Đ, đại diện lãnh đạo UBND ã T, đại diện các cơ quan chuyên môn, đại diện các tổ chức đoàn thể, Thôn trư ng Thôn Y, ết quả lần h a giải này không thành; Lần h a giải thứ 02 được tổ chức vào ngày 18/10/2022 với sự có mặt của ông Võ Hồng A (là ngư i đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị M), đại diện lãnh đạo UBND ã T, đại diện các cơ quan chuyên môn, đại diện các tổ chức đoàn thể, tuy nhiên cu c h a dài hông được thực hiện do ông Lê Doãn Đ vắng mặt Như vậy, việc h a giải tại cơ s đã được UBND ã T thực hiện đ ng theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013 và Điều 88 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành m t số điều của luật đất đai năm 2013, do đó quan điểm của ngư i đại diện theo ủy quyền của bị đơn về việc vụ án chưa được h a giải tại cơ s là hông đ ng với thực tế

. Về việc xác định tư cách người tham gia tố tụng trong vụ án:

Ngày 11 tháng 11 năm 2022, T a án nhân dân huyện L c Hà thụ l vụ án, đồng th i có thông báo về việc thụ l vụ án số 17/2022/TB-TLVA, trong đó ác định ngư i h i iện là ông Võ Hồng A, do ông Võ Hồng A được bà Nguyễn Thị M ủy quyền h i iện; ngày 01/12/2022, ông Võ Hồng A có văn bản ủy quyền lại cho ông Phạm Văn Đ tham gia tố tụng. Đến ngày 20/3/2023, Tòa án nhân dân huyện L nhận được đơn h i iện của bà Nguyễn Thị M với n i dung yêu cầu h i iện giống với n i dung yêu cầu trong đơn h i iện của ông Võ Hồng A, cụ thể bà M yêu cầu ông Lê Doãn Đ phải trả lại cho bà Minh th a đất số 90 t bản đồ số 8 bản đồ địa chính năm 2012, địa ch : Thôn Y, ã T, huyện L, t nh Hà T nh, đồng th i phải tháo dỡ toàn b tư ng rào và di d i cây cối mà ông Đàn đã trồng trên đất của bà M.

X t thấy, vào th i điểm thụ l vụ án cấp sơ th m ác định ông Võ Hồng A tham gia tố tụng với tư cách nguyên đơn trong vụ án là hông đảm bảo theo quy định tại điểm a hoản 2 Điều 189 B luật tố tụng dân sự năm 2015; trong trư ng hợp này cấp sơ th m phải hướng dẫn cho bà Nguyễn Thị M làm đơn h i iện, bà Minh phải tên hoặc điểm ch vào đơn h i iện. Trư ng đã thụ l đơn h i iện của ông Võ Hồng A thì T a án cấp sơ th m căn cứ quy định tại điểm a hoản 1 Điều 192, điểm g hoản 1 Điều 217 B luật tố tụng dân sự năm 2015 để đình ch việc giải quyết vụ án đối với yêu cầu h i iện của ông Võ Hồng A Đồng th i tiến hành các thủ tục để thụ l vụ án đối với yêu cầu h i iện của bà Nguyễn Thị M theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, ngày 21/3/2023 T a án nhân dân huyện L đã có buổi làm việc với các đương sự trong đó có mặt của nguyên đơn, bị đơn, tại buổi làm việc các bên đã thống nhất n i dung: Trong các văn bản tố tụng trước đó có ghi nguyên đơn là ông Võ Hồng A, nay được s a đổi lại, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị M Tại buổi làm việc, các bên đương sự đều nhất trí bảo lưu iến của mình tại các biên bản h a giải, biên bản iểm tra tiếp cận giao n p công hai chứng cứ cũng như các văn bản tố tụng hác trước đó, hông ai có iến gì s a đổi, bổ sung. Trong văn bản làm việc cũng đã ác định rõ th i hạn các bên đương sự có iến hác thì thực hiện trong th i hạn 10 ngày ể từ ngày lập biên bản; tuy nhiên hết th i hạn trên các đương sự đều hông có iến hác

X t về thủ tục tố tụng Tòa án cấp sơ th m thực hiện chưa đảm bảo quy định của pháp luật, tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án cấp sơ th m đã làm việc với các đương sự, tại buổi làm việc các đương sự đã thống nhất về việc thay đổi tư cách tố tụng của nguyên đơn, các n i hác các bên đều thống nhất bảo lưu iến tại các buổi làm việc trước đó và hông ai có iến hác, tại phiên t a sơ th m H i đồng t tiếp tục hỏi iến của các đương sự về n i dung trên nhưng các bên đương sự đều hông có iến. Như vậy, t về quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự trong vụ án vẫn được bảo đảm theo quy định của pháp luật

[II]. Xét n i dung háng cáo của bị đơn, H i đồng t nhận thấy:

. Xét nguồn gốc thửa đất tranh chấp: Căn cứ sổ mục ê địa chính; bản đồ 299 và bản đồ địa chính năm 2012 thôn Y, xã T, cũng như ý kiến của chính quyền địa phương có đủ cơ s ác định th a đất tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị M và ông Lê Doãn Đ nằm trong th a đất số 277 t bản đồ số 02 bản đồ 299, nay thu c th a đất số 90 t bản đồ số 8 bản đồ địa chính năm 2012 (mang tên ông Võ Hồng Đ), có địa ch : Thôn Y, xã T, huyện L, t nh Hà T nh, nguồn gốc là đất của Hợp tác xã Th quản lý. Năm 2000 ông Võ Hồng Đ và bà Nguyễn Thị M làm nhà sinh sống trên th a đất đến nay.

Căn cứ ết qủa em t th m định tại chỗ ngày 15/12/2022 của T a án nhân dân huyện L ác định th a đất đang tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị M và ông Lê Doãn Đ thu c th a số 90 t bản đồ số 8 bản đồ địa chính năm 2012, có địa ch : Thôn Y, xã T, huyện L, t nh Hà T nh, có diện tích thực tế, hiện trạng s dụng là 840,2m2, có vị trí tứ cận: Phía Bắc giáp đư ng Trục thôn, dài 21,56m; Phía Nam giáp đất bà Lục, dài 20,55m; Phía Đông giáp đất anh Lê Doãn Đ, dài 39,07m; Phía Tây giáp nhà anh Lê Doãn Đ, dài 36,97m.

Tuy nhiên, theo bản đồ địa chính năm 2012, hiện trạng s dụng đất hiện nay và Biên bản iểm tra hiện trạng th a đất ngày 21/9/2023 của T a án nhân dân t nh Hà T nh, thể hiện về diện tích th a đất tranh chấp hông có sự thay đổi, nhưng về ranh giới th a đất được ác định lại, cụ thể như sau: Phía Bắc giáp đư ng bê tông, dài 21,56m; Phía Nam giáp th a đất số 102 t bản đồ số 08 của bà Lê Thị S, dài 20,55m; Phía Tây giáp th a số 96 t bản đồ số 08 của ông Lê Doãn Đ có chiều dài 12,65m + 18,05m + 6,27m và giáp hành lang đư ng 1,06m; Phía Đông giáp th a đất số 102 t bản đồ số 08 của bà Lê Thị S, dài 16,02m + 2,41m và giáp đất ông Lê Doãn Đ, dài 23,05m.

. Xét yêu cầu của nguyên đơn: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên t a nguyên đơn, ngư i đại diện của nguyên đơn, ngư i đại diện UBND huyện L c Hà, UBND xã T đều hẳng định vào năm 2000, sau khi kết hôn thì vợ chồng ông Võ Hồng Đ, bà Nguyễn Thị M đến làm m t ngôi nhà tranh tre, sinh sống trên th a đất. Đến năm 2002, được chính quyền địa phương hỗ trợ nên đã xây dựng lại ngôi nhà xây và vợ chồng bà M sinh sống trong ngôi nhà đó đến năm 2005 ông Đ mất, bà M tiếp tục sinh sống cho đến nay. Trước khi vợ chồng ông Đ, bà M về Làm nhà sinh sống trên th a đất chưa có ai s dụng.

Căn cứ Biên bản xác minh ngày 23/02/2023 và Biên bản xác minh ngày 20/12/2022, tại UBND xã T, cũng như l i khai của ngư i làm chứng là ông Nguyễn Quốc T, nguyên là Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch mặt trận xã T thể hiện: Trước khi vợ chồng ông Đ, bà M làm nhà sinh sống trên th a đất thì th a đất thu c quyền quản lý của Hợp tác xã T và từ trước đến th i điểm ông Đ, bà M về sinh sống thì chưa có ai làm nhà sinh sống trên đó; khi vợ chồng ông Đương làm nhà thì chính quyền địa phương biết nhưng không ngăn cấm, đến năm 2002 chính quyền địa phương đã hỗ trợ kinh phí, ngày công cho vợ chồng ông Đ, bà M xây lại ngôi nhà. Như vậy, có cơ s khẳng định tại th i điểm vợ chồng ông Đ, bà M đến làm nhà sinh sống trên th a đất, chính quyền địa phương đã mặc nhiên đồng ý cho vợ chồng ông Đ, bà M s dụng th a đất. Thực tế cho thấy, sau khi ông Đương chết thì bà Minh vẫn m t mình sinh sống trên th a đất cho đến nay. Ch đến khoảng năm 2018, trong lúc bà Minh đi vắng thì ông Lê Doãn Đ mới đến xây tư ng rào bao quanh, chiếm dụng để trồng cây. Nếu như trình bày của bị đơn về việc năm 2000 gia đình ông Đ cho vợ chồng bà M mượn đất làm nhà tạm thì lẽ ra khi gia đình bà Minh xây lại ngôi nhà mới, gia đình ông Đ phải có ý kiến để cơ quan có th m quyền giải quyết. Tuy nhiên khi gia đình bà M được chính quyền địa phương hỗ trợ, xây lại ngôi nhà mới, cũng như mãi sau này, gia đình ông Đ cũng không có ý kiến khiếu nại gì mà đến năm 2018 ông Đ tự ý đến xây tư ng rào bao quanh để s dụng.

. Xét ý kiến của bị đơn: Theo ý kiến của bị đơn thì th a đất tranh chấp trước đây là của ông Lê Doãn X (Bố ông Đ), khai hoang từ năm 1982, sau đó, năm 1989, ông X làm nhà sinh sống cùng con gái là Lê Thị L trên th a đất đó. Đến khoảng năm 2000 thì thấy vợ chồng bà M hoàn cảnh khó khăn không có chổ nên ông X cho vợ chồng bà M mượn tạm. Tuy nhiên phía bị đơn, ông Lê Doãn Đ không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh về nguồn gốc s dụng th a đất cũng như việc cho vợ chồng bà M mượn đất làm nhà tạm. Tại biên bản xác minh ngày 20/12/2022 và biên bản ghi l i khai ngày 27/02/2023, ông Lê Công Sinh và ông Trần Quốc T cung cấp: Th a đất hiện đang tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị M và ông Lê Doãn Đ có nguồn gốc là của HTX T. Từ năm 2000 tr về trước không có ai s dụng, làm nhà sinh sống trên th a đất đó. Ch đến năm 2000, vợ chồng ông Đương bà M đến làm nhà sinh sống. Sau đó đến năm 2002, vợ chồng ông Đ bà M được chính quyền địa phương hỗ trợ kinh phí nên đã xây được ngôi nhà xây như hiện nay. Mặt khác, theo sổ mục kê địa chính và bản đồ 299 thì th a đất tranh chấp nằm trong th a đất 277 t bản đồ số 02, th a đất này do Hợp tác xã T quản lý. Theo l i trình bày của đại diện UBND xã T và UBND huyện L thì việc đo vẽ bản đồ, ghi tên trong sổ mục kê 299 được thực hiện từ năm 1982 đến năm 1984 và được thông báo công khai r ng rãi, nếu như ông Lê Doãn X (Bố ông Đ) khai hoang từ năm 1982 thì lẽ ra phải làm thủ tục đăng ký kê khai quyền s dụng đất theo quy định. Tuy nhiên hồ sơ địa chính cũng như những tài liệu, chứng cứ thu thập được đều chứng minh rằng nguồn gốc th a đất là của Hợp tác ã T, trước hi vợ chồng bà M làm nhà thì chưa có ai s dụng, làm nhà sinh sống Vì vậy, iến của bị đơn không có căn cứ chấp nhận

Tại phiên t a ph c th m phía nguyên đơn có iến đề nghị như ng lại cho bị đơn phần diện tích đất 300m2, mặc dù tại phiên t a phía bị đơn hông nhất trí với đề uất của nguyên đơn mà đề nghị cho nguyên đơn hoản 200m2 đất, phần con lại đề nghị giao cho bị đơn H i đồng t

t thấy, như phân tích tại mục [2], mục [3] thì yêu cầu h i iện của nguyên đơn là có căn cứ, quan điểm của bị đơn là không có căn cứ Tuy nhiên t trên thực tế mặc dù bà Nguyễn Thị M s dụng đất từ năm 2000, đến năm 2012 được ghi nhận trong bản đồ địa chính 2012, nhưng q a trình đó ông Lê Doãn Đ vẫn s dụng th a đất để trồng hoa màu, cây cối và năm 2018 ây tư ng rao bao quanh th a đất Như vậy, ông Đ là ngư i có m t phần công sức trong việc tôn tạo, trông coi, giữ gìn th a đất, nên cần giao cho ông Lê Doãn Đ được quyền quản l s dụng phần diện tích đất 300m2 như đề nghị của nguyên đơn là phù hợp.

. Đối với tài sản trên thửa đất tranh chấp: Theo l i khai của bị đơn thì trên th a đất tranh chấp có hệ thống tư ng rào xây 03 phía và m t số cây là do ông Đ tạo lập. Số tài sản này ông Đ xây dựng khi chưa được sự đồng ý của bà M, tuy nhiên hiện tại giá trị s dụng vẫn còn nên đối với phần đất tạm giao cho bà M có công trình ây dựng, cây cối của ông Đàn tạo lập cần giao cho bà M được quyền s hữu và bu c bà Minh phải thanh toán cho ông Đ m t khoản tiền tương ứng. Căn cứ ết quả em t th m định tại chỗ, định giá tài sản của cấp sơ th m và ết quả iểm tra em t hiện trạng th a đất tranh chấp ngày 21/9/2023 của T a án nhân dân t nh Hà T nh ác định, trên phần đất bà Nguyễn Thị M được tạm giao quyền s dụng có các tài sản do ông Lê Doãn Đàn tạo lập gồm: 68m tư ng rào, trị giá 9 628 800đồng; 4 cây keo và 01 cậy phi lao trị giá 117 000đồng, cần bu c bà Nguyễn Thị M có ngh a vụ trả cho ông Lê Doãn Đ số tiền giá trị tài sản trên.

. Từ những nhận định đánh giá trên đây, t thấy mặc dù trong quá trình t cấp sơ th m có vi phạm thủ tục tố tụng, tuy nhiên những Vi phạm này hông làm thay đổi n i dung, bản chất vụ án Mặt hác tại phiên t a ph c th m nguyên đơn đề nghị như ng lại m t phần diện tích đất cho bị đơn là đảm bảo việc giải quyết vụ án được về cả l và tình Mặt khác quá trình em t th m định tại chỗ cấp sơ th m ác định chưa đầy đủ, chính ác về ranh giới của th a đất, dẫn tới quyết định của bản án ác định về ranh giới tứ cận th a đất chưa chính ác Vì vậy, H i đồng t ph c th m t thấy cần s a bản án sơ th m.

. Về án phí, lệ phí, chi phí tố tụng:

. Về án phí sơ th m: Yêu cầu h i iện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ th m theo quy định của pháp luật

. Về án phí ph c th m: háng cáo của bị đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí ph c th m

. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tự nguyện chịu và đã n p toàn b chi phí tố tụng nên miễn xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ hoản 2 Điều 308, hoản 2 Điều 309 B luật tố tụng dân sự chấp nhận m t phần n i dung háng cáo của nguyên đơn ông Lê Doãn Đ. S a bản án sơ th m số 02/2023/DS-ST ngày 20-4-2023 của T a án nhân dân huyện L, t nh Hà T nh.

Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 147, Điều 228, Điều 229, Điều 235 và Điều 273 B luật Tố tụng dân sự; Điều 164, Điều 166 B luật Dân sự; Điều 203 Luật Đất đai 2013, tuyên :

1. Chấp nhận m t phần n i dung yêu cầu h i iện của nguyên đơn

1.1. Bu c ông Lê Doãn Đ phải trả lại cho bà Nguyễn Thị M diện tích đất 540,2m2 (trong đó có 180m2 đất và 360,2m2 đất trồng cây lâu năm) thu c th a đất số 90 t bản đồ số 8 bản đồ địa chính năm 2012, địa ch : Thôn Y, ã T, huyện L, t nh Hà T nh

1.2. Tạm giao cho bà Nguyễn Thị M được quyền s dụng diện tích 540,2m2 đất (trong đó có 180m2 đất và 360,2m2 đất trồng cây lâu năm) thu c th a đất số 90 t bản đồ số 8 bản đồ địa chính năm 2012, địa ch : Thôn Y, ã T, huyện L, t nh Hà T nh, th a đất có giáp ranh, tứ cận như sau:

Phía Bắc giáp đư ng trục thôn (đư ng bê tông), dài 13,82m;

Phía Nam giáp th a đất số 102 t bản đồ số 08 của bà Lê Thị S, dài 12,52m;

Phía Đông giáp th a đất số 102 t bản đồ số 08 của bà Lê Thị S, dài 16,02m + 2,41m và giáp th a đất số 80 t bản đồ 08 của ông Lê Doãn Đ, dài 23,05m;

Phía Tây giáp phần đất tạm giao cho ông Lê Doãn Đ, dài 38,58m .

1.3. Tạm giao cho ông Lê Doãn Đ được quyền s dụng diện tích 300m2 đất (trong đó có 120m2 đất và 180m2 đất trồng cây lâu năm) thu c th a đất số 90 t bản đồ số 8 bản đồ địa chính năm 2012, địa ch : Thôn Y, ã T, huyện L, t nh Hà T nh, th a đất có giáp ranh, tứ cận như sau:

Phía Bắc giáp đư ng trục thôn (đư ng bê tông), dài 7,74m;

Phía Nam giáp th a đất số 102 t bản đồ số 08 của bà Lê Thị S, dài 8,03m;

Phía Đông giáp phần đất tạm giao cho bà Nguyễn Thị M, dài 38,58m;

Phía Tây giáp th a đất số 96 t bản đồ 08 (phần tư ng rào xây) của gia đình anh Lê Doãn Đ, dài 12,65m + 18,05m + 6,27m + Giáp hành lang đư ng dài 1,06m.

(Cụ thể có sơ đồ tạm giao đất kèm theo bản án phúc thẩm).

1.4. Bà Nguyễn Thị M và ông Lê Doãn Đ có ngh a vụ đến cơ quan có th m quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận QSD đất theo quy định của pháp luật.

1.5 Giao cho bà Nguyễn Thị M được quyền s hữu các tài sản:

- 01 ngôi nhà, xây gạch táp lô, lợp ngói đỏ, diện tích 27m2, trị giá: 10.292.400 đồng;

- Hệ thống tư ng rào xây bao quanh, ba phía (Phía bắc, phía Nam và phía Đông) đối với phần đất giao cho bà M, có chiều dài 68m, trị giá 9.628.800đồng;

- 04 cây keo, 01 cây phi lao, trị giá 117.000 đồng.

1.6. Bà Nguyễn Thị M phải bồi thư ng cho ông Lê Doãn Đ số tiền giá trị tài sản là 9.745.800đồng (chín triệu bảy trăm bốn lăm ngàn tám trăm đồng).

2. Về án phí: Căn cứ hoản 1 Điều 147 B luật Tố tụng dân sự; hoản 2 Điều 26, điểm a hoản 2 Điều 27, hoản 1 Điều 29 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc H i

2.1. Về án phí sơ th m: Bu c ông Lê Doãn Đ phải chị 300 000đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ th m. Bà Nguyễn Thị Minh phải chịu 487.290 đồng (bốn trăm tám bảy ngàn hai trăm chín mươi đồng) tiền án phí bồi thư ng tài sản nhưng được trừ vào số tiền 300 000đồng ông Võ Hồng A đã n p tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 12282 ngày 11/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, t nh Hà T nh, bà Nguyễn Thị M còn phải n p tiếp số tiền 187.290 đồng (một trăm tám bảy ngàn hai trăm chín mươi đồng).

2.2. Án phí ph c th m: Ông Lê Doãn Đ hông phải chịu án phí ph c th m Trả lại cho ông Lê Doãn Đ 300 000đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí ph c th m ông Đ đã n p theo biên lai số 0012402 ngày 09/5/2023 của Chi cục thi hành án huyện L, t nh Hà T nh

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

Bản án ph c th m có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án

Cỡ chữ