vanban.org

Bản án 35/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 27/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Tuấn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Tuấn T 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 16/02/2022 Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Tuấn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠCH THÀNH
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2022/HSST
Ngày: 27- 4- 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Mai Văn Đảm

2. Bà Nguyễn Thị Hà

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Hùng - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2022/HSST, ngày 08 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2022/QĐXXST-HS, ngày 15/4/2022 đối với bị cáo:

Bùi Tuấn T; sinh ngày: 30/4/1999; tại: Xã C, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 09/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Chí T; con bà: Quách Thị L; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 16/02/2022 cho đến nay; Có mặt tại phiên tòa. Nhân thân: Ngày 10/8/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 24 tháng.

Những người tham gia tố tụng:

* Người bào chữa cho bị cáo Bùi Tuấn T: Ông Đường Xuân A - Trợ giúp viên pháp lý, chi nhánh trợ giúp pháp lý số 05, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hoá; Có mặt.

* Người làm chứng:

- Anh Quách Văn T1; sinh năm 1999; nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Văn V; sinh năm 1998; nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 16/02/2022, Tổ Công tác Công an huyện Thạch Thành phối hợp với Công an xã Thành Công tiến hành tuần tra, kiểm soát trên địa bàn xã Thành Công, huyện Thạch Thành. Khi đến khu vực trường THCS Thành Công thuộc thôn Bông Bụt, xã Thành Công phát hiện có hai đối tượng có nhiều biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác yêu cầu kiểm tra. Qua kiểm tra thu giữ tại túi áo bên trái của Quách Văn T1 có 01 gói được gói ngoài bằng mảnh giấy trắng (dạng giấy viết học sinh) có kích thước (01x02) cm bên trong chứa chất bột màu trắng. Thu giữ tại túi quần bên phải của Bùi Tuấn T số tiền 400.000 đồng (gồm 04 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng). Khai thác nhanh tại chỗ T và T1 khai nhận: gói ma túy thu giữ của T1 là do T1 vừa mua được của T trước đó với giá 200.000 đồng, còn số tiền thu giữ của T có được là tiền bán ma túy cho T1 và một người đàn ông trước đó. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Bùi Tuấn T và Quách Văn T1 về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ tiền và ma túy phục vụ công tác điều tra.

Kết quả giám định chất ma túy tại bản kết luận giám định số 837/PC09 ngày 21/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh hóa xác định: chất bột bên trong gói giấy thu giữ là ma túy, có khối lượng 0,025 gam loại Heroine.

Kết luận giám định số 869/KL-KTHS ngày 24/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh hóa xác định: 04 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng thu giữ của Bùi Tuấn T là tiền thật.

Về số lần bán ma tuý, quá trình điều tra xác định ngoài lần bán ma tuý cho Quách Văn T1 vào lúc 18 giờ 30 phút ngày 16/02/2022 bị bắt quả tang trên thì trước đó lúc 17 giờ cùng ngày, T còn bán cho Nguyễn Văn V 01 gói ma tuý với giá 200.000 đồng.

Về nguồn gốc ma tuý, Bùi Tuấn T khai do bản thân là người nghiện có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 13 giờ ngày 16/02/2022, T một mình bắt xe của người lạ đi đường lên huyện Cẩm Thủy để tìm mua ma túy. Khi đến khu vực cầu Cẩm Phong, huyện Cẩm Thủy thì gặp một người đàn ông (không rõ lại lịch, địa chỉ) hỏi mua của người này 1.500.000 đồng Heroine thì được người này đồng ý bán. Sau khi mua được ma túy, Thành về nhà sử dụng ma túy nhiều lần. Số còn lại, T chia đều thành 02 gói nhỏ cất giữ trong người mục đích có người hỏi mua sẽ bán. Đến 17 giờ cùng ngày, khi đang đi bộ gần nhà tại thôn Bông Bụt, xã Thành Công thì gặp Nguyễn Văn V, V có hỏi mua 200.000 đồng tiền ma túy thì được T đồng ý bán bán 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Tiếp đó, đến khoảng hơn 18 giờ cùng ngày T bán cho Quách Văn T1 gói ma túy còn lại được 200.000 đồng thì bị bắt quả tang.

Về người bán ma tuý, do T khai không quen biết, không rõ tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra mở rộng vụ án.

Trong vụ án có Quách Văn T1 là người đã mua ma túy của Bùi Tuấn T, quá trình điều tra xác định Tuấn là người nghiện ma túy, mục đích mua ma túy là để sử dụng cho bản thân, T1 là người chưa có tiền án, tiền sự; khối lượng ma túy T1 mua là 0,025 gam Heroine không đủ định lượng cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định của Điều 249 Bộ luật Hình sự, nên Công an huyện Thạch Thành đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Quách Văn T1 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định. Đối với Nguyễn Văn V cũng là người đã mua ma túy của T. Tuy nhiên, V khai sau khi mua xong đã sử dụng hết nên Cơ quan điều tra không thu giữ được gói ma túy. Do đó, không có cơ sở để xử lý đối với Nguyễn Văn V.

Kết quả xác minh về tài sản, thu nhập, xác định hiện tại bị cáo không có tài sản và thu nhập.

Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, thông qua bắt quả tang, Cơ quan điều tra đã thu giữ:

- 01 gói giấy màu trắng (dạng giấy viết học sinh), kích thước gói (01x02)cm, bên trong chứa chất bột màu trắng (kết quả giám định là Heroine). Sau giám định, cơ quan giám định đã hoàn lại mẫu vật giám định gồm: Toàn bộ bao gói mở niêm phong và 0,017gam chất bột màu trắng. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đăng, Phạm Thanh Hải và các hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá.

- Tiền Việt Nam: 400.000 đồng được đựng trong phong bì do phòng kỹ thuật hình sự (PC09)- Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được gián kín niêm phong có các chữ lý ghi rõ họ tên của Nguyễn Văn Quang, Phạm Hữu Tuấn và các hình dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa.

Tại bản cáo trạng số 34/CT-VKSTT, ngày 07/4/2022, Viện kiểm sát nhân dân (sau đây viết tắt là VKSND) huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Bùi Tuấn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự (sau đây viết tắt là BLHS).

Tại phiên toà, đại diện VKSND giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt Bùi Tuấn T từ 07 năm đến 08 năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam.

Kết quả xác minh về tài sản thu nhập, xác định hiện tại bị cáo không có tài sản và thu nhập không đáng kể nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS), tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 400.000 đồng là số tiền của bị cáo do phạm tội mà có.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Bùi Tuấn T: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, Bị cáo đang còn trẻ là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, do đó nhận thức pháp luật còn hạn chế. Từ những căn cứ trên đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số (Mường) sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn (thôn đặc biệt khó khăn). Đồng thời, bị cáo có đề nghị được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm. Vì vậy, đề nghị HĐXX xem xét miễn án phí cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Bị cáo T khẩn nhận tội, không có ý kiến tranh luận với kiểm sát viên; Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thạch Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội: Ngày 16/02/2022, Bùi Tuấn T đã tìm mua ma tuý (Heroine) về sử dụng nhiều lần, sau đó phân chia thành 02 gói nhỏ mục đích để bán lẻ cho người nghiện kiếm lời. Vào khoảng 17 giờ cùng ngày, T bán cho Nguyễn Văn V người ở thôn L, xã H 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng; đến 18 giờ cùng ngày Thành bán tiếp cho Quách Văn T1 người ở thôn B, xã C 01 gói Heroine có khối lượng 0,025 gam với giá 200.000 đồng thì bị Công an huyện Thạch Thành phát hiện, bắt quả tang. Mặc dù khối lượng ma tuý mà bị cáo Bùi Tuấn T bán là 0,025 gam Heroine, dưới mức tối thiểu quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, nhưng bị cáo đã độc lập 02 lần thưc hiện hành vi bán trái phép chất ma tuý cho Nguyễn Văn V và Quách Văn T1, nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung là “Phạm tội 02 lần trở lên”. Như vậy, HĐXX có đủ căn cứ để xác định hành vi của Bùi Tuấn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS.

. Tính chất vụ án: Đây là vụ án mua bán trái phép chất ma túy có tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự, trị an và an toàn xã hội trên địa bàn, làm ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi, mà còn là tiền đề và điều kiện phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác trong xã hội. Do đó, cần lên ch bị cáo một mức án nghiêm khắc và cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để các bị cáo có cơ hội sủa chữa lỗi lầm của mình. Thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam sẽ được trừ vào thời gian chấp hành án.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có một tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

. Về nguồn gốc số ma túy: Do T khai mua của một người không quen biết, không rõ họ tên và địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra mở rộng vụ án.

. Về hình phạt tiền bổ sung: Kết quả xác minh về tài sản, thu nhập, xác định hiện tại các bị cáo không có tài sản và thu nhập không đáng kể nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

.Về vật chứng: Đối với vật chứng là toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Số tiền 400.000 đồng thu giữ khi bắt quả tang của bị cáo T là tiền bị cáo do phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

. Đối với Quách Văn T1 là người đã mua ma túy của Bùi Tuấn T, quá trình điều tra xác định T1 là người nghiện ma túy, mục đích mua ma túy là để sử dụng cho bản thân, T1 là người chưa có tiền án, tiền sự; khối lượng ma túy T1 mua là 0,025 gam Heroine không đủ định lượng cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định của Điều 249 Bộ luật Hình sự, nên Công an huyện Thạch Thành đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Quách Văn T1 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng quy định của pháp luật. Đối với Nguyễn Văn V cũng là người đã mua ma túy của T. Tuy nhiên, V khai sau khi mua xong đã sử dụng hết nên Cơ quan điều tra không thu giữ được gói ma túy. Do đó, không có cơ sở để xử lý đối với Nguyễn Văn V.

. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn (thôn đặc biệt khó khăn) và có đề nghị được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm. Vì vậy theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Bùi Tuấn T.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Tuấn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Tuấn T 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 16/02/2022

Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ bao gói mở niêm phong và 0,017gam chất bột màu trắng. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đăng, Phạm Thanh Hải và các hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước Tiền Việt Nam: 400.000 đồng được đựng trong phong bì do phòng kỹ thuật hình sự (PC09)- Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được gián kín niêm phong có các chữ lý ghi rõ họ tên của Nguyễn Văn Quang, Phạm Hữu Tuấn và các hình dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/4/2022 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Thạch Thành và chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thành)

Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Bùi Tuấn T.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người bào chữa cho bị cáo. Bị cáo Bùi Tuấn T có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ