- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn Th - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2022/HSST Ngày 21 - 4 -2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mạnh Xuân Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
1- Ông Vũ Quốc Phòng – Giáo viên nghỉ hưu phường Châu Giang;
2- Ông Nguyễn Minh Tín – Cán bộ nghỉ hưu phường Hòa Mạc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2022/HSST ngày 16 tháng 3 năm 2022, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2022 đối với:
1/ Bị cáo: Hà Văn Th, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn Đồng Tr, xã Xuân H, huyện Như X, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Đức Qu (đã chết) và bà Hà Thị H, SN 1952; vợ: Lang Thị Đ (đã ly hôn); con: có 01 con Hà Đức Tr, sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: không; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
2/ Bị hại:
- Cháu Nguyễn Văn Ch, sinh ngày 6/7/2005; nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố Trại Quan Nh, phường Hòa M, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam (đã chết). Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1980; cùng địa chỉ: Tổ dân phố Trại Quan Nh, phường Hòa M, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt, có Đơn xin xử vắng mặt.
- Cháu Nguyễn Duy Đ, sinh ngày 30/5/2004. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Duy Ngh, sinh năm 1972 và bà Phan Thị K, sinh năm 1974; cùng địa chỉ: Tổ dân phố Đôn L, phường Yên B, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam; tại phiên tòa có mặt cháu Đ và bà K, vắng mặt ông Ngh.
- Cháu Lại Huỳnh Đ, sinh ngày 15/6/2005. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lại Văn T, sinh năm 1975; cùng địa chỉ: Tổ dân phố Thái H, phường Hòa M, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam; có mặt.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bị hại: Bà Phạm Thị Nhàn- Trợ giúp viên trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Nam có Đơn xin vắng mặt và gửi Bản luận cứ bảo vệ cho các bị hại.
3/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1975; địa chỉ: Tổ dân phố Trại Quan Nh, phường Hòa M, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
- Bà Phan Thị K, sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ dân phố Đôn L, phường Yên B, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam; có mặt.
- Ông Lại Văn T, sinh năm 1975; địa chỉ: Tổ dân phố Thái H, phường Hòa M, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam; có mặt.
- Chị Lương Thị Th, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn Ng, xã Xuân H, huyện Như X, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.
- Bà Hà Thị H, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn Đồng Tr, xã Xuân H, huyện Như X, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.
- Ông Đỗ Minh T, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ dân phố Thái H, phường Hòa M, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
4/ Người làm chứng:
- Cháu Vũ Đức Th, sinh ngày 4/6/2005. Người giám hộ: Ông Vũ Mạnh H, sinh năm 1977; vắng mặt.
- Cháu Vũ Xuân Tr, sinh ngày 30/10/2004. Người giám hộ: Ông Vũ Văn S, sinh năm 1975; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hà Văn Th, sinh năm 1990, trú tại thôn Đồng Tr, xã Xuân H, huyện Như X, tỉnh Thanh Hóa có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 do Sở GTVT tỉnh Nghệ An cấp. Th là công nhân của Công ty bê tông Vĩnh Khánh có xưởng sản xuất tại phường Hòa Mạc, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
Hồi 21 giờ 00' ngày 20/8/2021, sau khi ăn cơm và uống bia cùng với một số anh em của công ty bê tông Minh Khánh ở khu đô thị Hòa Mạc, phường Hòa Mạc, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, Hà Văn Th một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner BKS 36B7 - 411.63 đi từ Hòa Mạc ra Đồng Văn theo đường QL38, đi bên phải đường, trên làn đường dành cho xe cơ giới chiều Hòa Mạc - Đồng Văn với tốc độ khoảng 60km/h. Khi đi đến khu vực đoạn Km 78+800 QL38 thuộc địa phân tổ dân phố Lũng Xuyên, phường Yên Bắc, thị xã Duy Tiên, do thấy trong của hàng xăng dầu có tiếng người nói, Th ngoảnh mặt sang trái nhìn vào cửa hàng xăng dầu, khi Th quay mặt lại thì nhìn thấy xe mô tô do cháu Nguyễn Duy Đ, sinh ngày 30/5/2004 ở tổ dân phố Đôn L, phường Yên B, thị xã Duy T điều khiển, phía sau chở Lại Huỳnh Đ, sinh ngày 15/6/2005 ở tổ dân phố Thái H, phường Hòa M, thị xã Duy T (ngồi giữa) và Nguyễn Văn Ch, sinh ngày 06/7/2005 ở tổ dân phố Trại Quan Nh, phường Hòa M, thị xã Duy T (ngồi sau cùng) vừa quay đầu xe từ làn đường chiều Đồng Văn - Hòa Mạc sang làn đường chiều Hòa Mạc - Đồng Văn và đang đi phía trước cùng chiều với xe của Th. Khi chỉ còn cách khoảng 5-7 mét, Th vội đánh lái sang bên trái để tránh. Do khoảng cách quá gần, Th không tránh kịp nên đã để phần đầu xe mô tô của mình đâm vào phần đuôi xe mô tô của cháu Đ điều khiển, làm cả hai xe bị đổ xuống đường rê trượt về phía Đồng Văn. Hậu quả: Cháu Nguyễn Văn Ch bị thương tích nặng được đưa đi Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Nam cấp cứu, đến khoảng 02 giờ 16 phút ngày 21/8/2021 thì bị tử vong. Cháu Nguyễn Duy Đ bị thương được đưa đi Bệnh viện hữu nghị Việt Đức - Hà Nội điều trị, đến ngày 31/8/2021 ra viện, cháu Lại Huỳnh Đ bị xây sát nhẹ. Hai xe mô tô bị hư hỏng.
Khám nghiệm hiện trường: Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại Km 78+800 QL38 đoạn thuộc địa phận tổ dân phố Lũng Xuyên, phường Yên bắc, thị xã Duy Tiên. Tổ chức giao thông là đường hai chiều, được trải nhựa áp phan bằng phẳng, có vạch kẻ sơn màu vàng nét đứt ở giữa tim đường rộng 0,15m chia thành hai phần đường xe chạy, mỗi phần đường rộng 5,5m. Bên phải phần đường Hòa Mạc – Đồng Văn có hệ thống tôn hộ lan cách mép đường 0,3m, có biển báo nguy hiểm. Lấy tâm cột Km 78+800 QL38 làm điểm mốc, lấy mép đường bên phải hướng Hòa Mạc – Đồng văn làm mép đường chuẩn (gọi tắt là mép đường), các số đo được đo vuông góc. Các dấu vết được ký hiệu từ 1 đến 6. Ký hiệu số (1) là mảng vết mài trượt có hướng Hòa Mạc - Đồng Văn, KT(6,8 x 0,35)m, điểm đầu gần nhất mảng vết mài trượt số (1) cách mép đường 2,1m, điểm cuối của mảng vết mài trượt số (1) là vị trí tiếp giáp giữa mặt đường với sườn bên trái của xe mô tô số (3). Điểm đầu dấu vết số (1) cách điểm đầu dấu vết số (2) hướng Đồng Văn 4,1m. Dấu vết số (2) là mảng vết mài trượt có hướng Hòa Mạc - Đồng Văn KT(20,5 x 0,8)m, điểm đầu gần nhất dấu vết số (2) cách mép đường 2,95m, điểm cuối dấu vết số (2) là vị trí tiếp giáp giữa mặt đường với sườn xe bên trái xe mô tô số (5). Điểm đầu dấu vết số (2) cách trục sau xe mô tô số (3) hướng Đồng Văn 2,1m. Xe mô tô số (3) không có biển kiểm soát, đổ áp sườn trái xuống đường, hai bánh xe mô tô số (3) nằm phía dưới tôn hộ lan, đầu xe mô tô số (3) quay hướng Đồng Văn, đuôi xe mô tô số (3) quay hướng Hòa Mạc, trục trước xe mô tô số (3) trùng với mép đường, trục sau xe mô tô số (3) cách mép đường 0,5m. Trục trước xe mô tô số (3) cách tâm dấu vết số (4) hướng Đồng Văn 10,4m. Dấu vết số (4) là vết máu KT(1,2 x 1)m, tâm dấu vết số (4) trùng với mép đường. Tâm dấu vết số (4) cách trục trước xe mô tô số (5) hướng Đồng Văn 6,5m. Xe mô tô số (5) mang biển kiểm soát 36B7 – 411.63, đổ áp sườn trái xuống đường, đầu xe mô tô số (5) quay hướng mép đường, đuôi xe mô tô số (5) quay hướng giữa đường hơi chếch hướng Đồng Văn. Trục trước xe mô tô số (5) cách mép đường 0,8m, trục sau xe mô tô số (5) cách mép đường 2,05m. Dấu vết số (6) là khu vực mảnh nhựa vỡ, sữa, dép, mũ bảo hiểm KT(23,5 x 7,5)m. Tâm dấu vết số (6) cách mép đường 3,75m. Tâm dấu vết số (6) cách trục trước xe mô tô số (3) hướng Hòa Mạc 7m. Trục sau xe mô tô số (5) cách điểm mốc hướng Đồng Văn 7,9m. Biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên cách trục bánh trước xe mô tô số (5) hướng Đồng Văn 1,2m.
Khám xe mô tô BKS: 36B7 – 411.63: Gương chiếu hậu bên trái bị vỡ rời khỏi xe. Mặt trước cần gương này có vết mài sạt kim loại hướng từ trước về sau trên diện KT(0,5 x 1,5)cm. Đầu tay côn có vết mài sạt kim loại hướng từ trước về sau trên diện KT(1 x 0,5)m. Toàn bộ ốp nhựa xung quanh cụm đèn chiếu sáng phía trước bị vỡ rời khỏi xe trên diện KT(28 x 22)cm. Mặt trước cụm đèn chiếu sáng này có vết mài sạt nhựa hướng từ trước về sau, từ trên xuống dưới, bề mặt bám dính chất màu đỏ nghi sơn trên diện KT(23 x 7)cm. Cánh yếm chắn gió hai bên vỡ rời khỏi xe. Nửa chắn bùn bên phải phía trước bánh trước vỡ rời khỏi xe để lại phần đuôi bên phải chắn bùn này dài 18cm, rộng nhất 7cm. Mặt ngoài phần nhựa còn lại này bị chà sạt nứt vỡ nhựa hướng từ trước về sau trên diện KT( 16 x 5)cm. Mặt ngoài ốc trục bánh trước bên phải có vết trượt kim loại bề mặt bám dính chất màu đen hướng từ trước về sau trên diện KT(1,5 x 1,5)cm. Mặt trên nửa bên trái chắn bùn phía trước bánh trước có vết mài sạt nhựa hướng từ trước về sau trên diện KT(23 x 6)cm. Nửa bên phải má lốp bánh trước có vết trượt cao su bám dính chất màu đỏ nghi sơn, hướng ngược chiều tịnh tiến của bánh xe trên diện KT(28 x 5)cm. Mặt ngoài cần số có vết mài sạt kim loại hướng từ trước về sau trên diện KT(1,5 x 1)cm. Mặt ngoài để chân trước bên phải có vết mài sạt kim loại hướng từ trước về sau trên diện KT(1,5 x 3)cm. Thanh kim loại chống đổ phía trên để chân sau bên phải bị đẩy từ trước về sau cách vị trí ban đầu 7cm, đầu thanh kim loại này có vết mài sạt kim loại hướng từ trước về sau trên diện KT(2 x 2)cm. Cạnh dưới để chân phía sau bên trái có vết mài sạt kim loại hướng từ trước về sau trên diện KT(3 x 1,5)cm. Ốp nhựa thân xe bên trái bị mài sạt hướng từ trước về sau trên diện KT(24 x 17)cm.
Khám xe mô tô BKS: 90H2 - 3248: Xe không gắn biển kiểm soát, không có gương chiếu hậu hai bên. Toàn bộ ốp nhựa đầu xe và cụm đồng hồ công tơ mét bị bung rời các chốt bắt giữ, điểm rộng nhất 3,5cm. Cụm đèn chiếu sáng phía trước bị bật rời khỏi các chốt giữ. Các chốt bắt giữ phía trên cánh yếm chắn gió bên trái bị bật rời. Đầu tay lái bên trái có vết mài sạt kim loại không rõ hướng trên diện KT(3 x 2)cm. Cần vào số bị đẩy từ trái sang phải ép sát vào lốc máy, cạnh ngoài cần vào số này bị mài sạt kim loại hướng từ trước về sau trên diện KT(2,5 x 0,5)cm. Đầu kim loại để chân trước bên trái có vết mài sạt hướng từ trước về sau trên diện KT(1 x 1)cm. Mặt trước bàn đạp chân chống phụ có vết mài sạt kim loại hướng từ phải sang trái trên diện KT(4 x 0,3)cm. Đầu bàn đạp chân chống giữa bên trái có vết mài sạt kim loại hướng từ trước về sau trên diện KT(1 x1)cm. Mặt ngoài giá đỡ để chân sau bên trái có vết mài sạt kim loại hướng từ trước về sau trên diện KT(2,5 x 0,5)cm. Đầu ốc trục bánh sau bên trái có vết mài sạt kim loại hướng từ trước về sau trên diện KT(1 x 1)cm. Ốp nhựa thân xe bên trái có vết mài sạt nhựa hướng từ trước về sau trên diện KT(13 x 4,5)cm. Đầu cạnh bên trái tay xách nâng xe có vết mài sạt kim loại hướng từ trước về sau trên diện KT(16 x 2,5)cm. Đuôi ốp nhựa bên trái thân xe nứt vỡ trên diện KT(22 x 20)cm, điểm thấp nhất cách đất 57cm.Cụm đèn hậu vỡ rời khỏi xe, cạnh bên phải giá đỡ cụm đèn này bị đẩy từ sau về trước, từ trên xuống dưới KT(4 x 3)cm, điểm thấp nhất cách đất 71cm. Chắn bùn phía sau bánh sau bị mài sạt nứt vỡ nhựa hướng từ sau về trước, từ phải sang trái, bề mặt rải rác bám dính chất màu đỏ nghi sơn trên diện KT(23 x 19)cm, điểm thấp nhất cách đất 50cm. Cạnh bên trái vành xe bánh sau bị đẩy từ ngoài vào tâm trục trên cung dài 22cm, điểm đẩy xa nhất tạo khe hở với lốp xe 2,5cm.
Tại bản Kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số: 36/21/GĐHS ngày 21/10/2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh Hà Nam kết luận: "Dấu hiệu chính qua giám định: Chấn thương sọ não: Sưng nề, tụ máu dưới da vùng đầu, chảy máu tai phải, chảy máu mũi, miệng. Vỡ phức tạp xương hộp sọ, tụ máu dưới màng cứng, xuất huyết dưới nhện, tụ máu não thất, dập não, phù não. Nguyên nhân Nguyễn Văn Ch tử vong do chấn thương sọ não rất nặng".
Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên đã trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh Hà Nam giám định thương tích, vật gây thương tích, cơ chế hình thành dấu vết, tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với cháu Nguyễn Duy Đ song do bị thương tích nhẹ nên cháu Đ và gia đình đã có đơn từ chối giám định thương tích.
Đối với cháu Lại Huỳnh Đ: Do cháu Đ chỉ bị xây xát da nhẹ nên cháu Đ không đề nghị giải quyết gì.
Sau khi tai nạn xảy ra, cơ quan Công an đã đo nồng độ cồn trong khí thở của Hà Văn Th, kết quả: 0.452 mg/L.
Đo nồng độ cồn trong khí thở của Nguyễn Duy Đ, kết quả: 0.000 mg/L.
Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT đã tạm giữ:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe WinnerX, màu sơn đỏ bạc đen, BKS 36B7 - 411.63; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 470384 cấp cho xe mô tô BKS: 36B7 - 411.63 mang tên Lương Thị Th; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe mô tô BKS: 36B7 - 411.63; 01 giấy phép lái xe hạng A1 số: 400154025683 mang tên Hà Văn Th; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại FUTURE, màu đỏ - đen, không có BKS, số khung: RLHJC35096Y030016, số máy: JC35E – 0120121; 01 đăng ký mô tô, xe máy số: 0027491 cấp cho xe mô tô BKS: 90H2 - 3248 mang tên Đỗ Minh T.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe WinnerX, màu sơn đỏ bạc đen, BKS 36B7 - 411.63 mang tên chủ sở hữu hợp pháp chị Lương Thị Th, sinh năm 1990 ở thôn Ng, xã Xuân H, huyện Như X, tỉnh Thanh Hóa. Chị Th là bạn của Hà Văn Th. Năm 2016 chị Th và Th góp tiền mua và sử dụng chung chiếc xe mô tô này, đăng ký mang tên chị Th. Sau đó đến năm 2021 chị Th và Th thỏa thuận, thống nhất để cho Th một mình sử dụng nên Th đã đưa cho chị Th số tiền 10.000.000đ. Nay chị Th không có ý kiến thắc mắc gì về chiếc xe này. Mặt khác, chiếc xe này không là vật chứng của vụ việc nào khác. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên đã trả lại Hà Văn Th chiếc xe mô tô BKS 36B7 - 411.63 cùng giấy tờ xe.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu đỏ - đen, không có BKS, số khung: RLHJC35096Y030016, số máy: JC35E - 0120121: Chiếc xe này có BKS 90H2 - 3248 mang tên chủ sở hữu hợp pháp anh Đỗ Minh T, sinh năm 1970 ở tổ dân phố Thái H, phường Hòa M, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam. Anh T mua chiếc xe mô tô này vào năm 2007. Do có mối quan hệ anh em và không còn nhu cầu sử dụng nên năm 2015 anh T đã cho anh Lại Văn T, sinh năm 1975 (là bố đẻ cháu Lại Huỳnh Đ) ở tổ dân phố Thái H, phường Hòa M, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam. Quá trình sử dụng anh T đã làm rơi chiếc BKS 90H2 - 3248. Nay anh T không có ý kiến thắc mắc gì về chiếc xe này. Mặt khác, chiếc xe này không là vật chứng của vụ việc nào khác. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên đã trả lại anh Lại Văn T chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu đỏ - đen, không đeo BKS cùng giấy tờ xe.
- Đối với 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số: 400154025683 mang tên Hà Văn Th do Sở giao thông vận tải tỉnh Nghệ An cấp ngày 30/7/2015 cho Hà Văn Th, giai đoạn truy tố Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên đã trả lại cho Hà Văn Th theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hà Văn Th cùng gia đình đã bồi thường cho gia đình bị hại Nguyễn Văn Ch số tiền là 120.000.000 đồng; bồi thường cho bị hại Nguyễn Duy Đ số tiền 40.000.000 đồng.
Cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 14/3/2022, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo mức án 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; về trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết và tuyên án phí đối với bị cáo.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bị hại thông qua bản luận cứ gửi đến phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật, đủ tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Đại diện của người bị hại có mặt xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ngoài ra không tranh luận gì.
Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng, bị cáo Hà Văn Th chỉ xin giảm nhẹ hình phạt, không tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Việc xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ chứng minh tội phạm, ban hành các văn bản tố tụng đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Hà Văn Th có Giấy phép lái xe mô tô theo quy định của pháp luật. Khoảng 20 giờ 30' ngày 20/8/2021, sau khi đã uống bia, trong hơi thở có nồng độ cồn 0.425mg/L, Hà Văn Th điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner BKS 36B7 - 411.63 trên làn đường dành cho xe cơ giới bên phải chiều Hòa Mạc - Đồng Văn. Khi đến khu vực đoạn Km 78+800 QL38 thuộc địa phân tổ dân phố Lũng Xuyên, phường Yên Bắc, thị xã Duy Tiên, lúc này phía trước cùng chiều có cháu Nguyễn Duy Đ đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu FUTURE không gắn BKS, phía sau chở cháu Lại Huỳnh Đ và cháu Nguyễn Văn Ch. Do thiếu chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn với phương tiện chạy liền trước, không làm chủ tốc độ của xe nên đã để phần đầu xe mô tô của mình đâm vào phần đuôi xe mô tô của cháu Đ điều khiển, làm cả hai xe bị đổ xuống đường rê trượt về phía Đồng Văn. Hậu quả: Cháu Nguyễn Văn Ch bị tử vong do chấn thương sọ não trong khi cấp cứu. Cháu Nguyễn Duy Đ bị thương được đưa đi Bệnh viện hữu nghị Việt Đức - Hà Nội điều trị, đến ngày 31/8/2021 ra viện, cháu Lại Huỳnh Đ bị xây sát nhẹ.
Hành vi nêu trên của Hà Văn Th gây nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông, ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương, hành vi của bị cáo tham gia giao thông trong hơi thở có nồng độ cồn (0,452 mg/L), đi không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy liền trước, không làm chủ tốc độ xe vi phạm Điều 8, 12, Luật giao thông đường bộ gây hậu quả làm chết 01 người đủ yếu tố cấu thành tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ pháp lý.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt; không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo và gia đình đã khắc phục hậu quả bồi thường cho gia đình người bị hại và được người đại diện của các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, tại phiên tòa bị cáo xuất trình Đơn xin giảm nhẹ hình phạt vì hoàn cảnh gia đình khó khăn (được chính quyền địa phương xác nhận). Đối chiếu với quy định của pháp luật, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt:
Hình phạt chính: Bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng vì vậy không cần phải cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của gia đình, xã hội cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo thành công dân tốt. Điều này cũng phù hợp với quan điểm xử lý bị cáo của đại diện Viện kiểm sát đưa ra.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về các tình tiết khác:
Ngày 20/8/2021, cháu Nguyễn Văn Ch và Nguyễn Duy Đ cùng các bạn đến nhà Lại Huỳnh Đ chơi. Sau đó, cháu Ch tự ý lấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu đỏ - đen, không đeo BKS của anh Lại Văn T (là bố đẻ cháu Đ) để đi, sau đó cháu Đ chở cháu Đ và cháu Ch đi chơi rồi xảy ra tai nạn. Việc cháu Ch tự ý lấy xe mô tô anh T không biết. Do vậy, không có việc anh T giao xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu đỏ - đen, không đeo BKS cho cháu Ch, cháu Đ khi cháu Ch và cháu Đ chưa đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Hành vi của anh Lại Văn T không cấu thành tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên không xử lý anh Tân là đúng quy định của pháp luật.
Đối với hành vi của cháu Nguyễn Duy Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu đỏ - đen, không đeo BKS có dung tích xi lanh 124cm3 của anh Lại Văn T chở cháu Lại Huỳnh Đ và Nguyễn Văn Ch bị tai nạn, dẫn đến cháu Ch bị tử vong: Xét thấy khi cháu Đ chuyển hướng quay đầu xe và điều khiển xe đi theo chiều Hòa Mạc - Đồng Văn được khoảng 05 - 10 mét thì bị Hà Văn Th đi cùng chiều phía sau đâm vào đuôi xe mô tô do cháu Đ điều khiển. Trong vụ việc này cháu Đ không có lỗi. Do vậy, hành vi của cháu Đ không cấu thành tội phạm nên Công an thị xã Duy Tiên ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với cháu Nguyễn Duy Đ về hành vi điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 50cm3 trở lên khi chưa đủ 18 tuổi và chở hai người ngồi phía sau, mức phạt: 625.000đ là đúng quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình các bị hại của cháu Nguyễn Duy Đ và Nguyễn Văn Ch xác nhận đã nhận khoản tiền bồi thường của bị cáo, riêng gia đình cháu Lại Huỳnh Đ không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại. Tại phiên tòa các đương sự không có yêu cầu gì nên HĐXX không đặt ra xem xét.
Về vật chứng, tài liệu thu giữ: Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên và Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên đã xử lý, nay không ai có ý kiến gì nên HĐXX không đặt ra xem xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, các đương sự thực hiện quyền kháng cáo theo quy định.
Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Về hình sự: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51và Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Hà Văn Th 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/4/2022).
Giao bị cáo Hà Văn Th cho Ủy ban nhân dân xã Xuân Hòa, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội bị cáo Hà Văn Th phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Báo cho bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, người có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- TAND tỉnh Hà Nam;
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- VKSND tỉnh Hà Nam;
- Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
- VKSND thị xã Duy Tiên;
- Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;
- Bị cáo, người tham gia tố tụng;
- Lưu HSVA.
Mạnh Xuân Hải
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: năm 2017 bị cáo có 01 tiền sự nhưng đã được xóa tiền sự; không phải chịu tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã khắc phục hậu quả bồi thường cho gia đình người bị hại; được người đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn là lao động chính trong gia đình được địa phương xác nhận; trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi là: điều khiển xe mô tô đi không đúng làn đường nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ những nhận định trên xét thấy bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng vì vậy không cần phải cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của gia đình tạo điều kiện cho bị cáo cải sửa mình. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: gia đình người bị hại đã nhận tiền bồi thường. Nay không ai có ý kiến gì; các đương sự không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra giải quyết.
Về vật chứng, tài liệu thu giữ: Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên và Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên đã xử lý nên HĐXX không đặt ra xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự.
* Tuyên bố bị cáo Đỗ Như Quỳnh phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
* Xử phạt: Đỗ Như Quỳnh 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đỗ Như Quỳnh cho Ủy ban nhân dân xã Phương Chiểu, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội bị cáo Đỗ Như Quỳnh phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của người bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- TAND tỉnh Hà Nam;
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- VKSND tỉnh Hà Nam;
- Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
- VKSND thị xã Duy Tiên;
- Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;
- Bị cáo, người tham gia tố tụng;
- Lưu HSVA.
TRẦN NGỌC THUẬN
Cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 03/02/2021, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Lê Tiến Hải từ 24 đến 30 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo: 01 di động viettel; 260.000đ; tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô BKS 53V4-8291 và đăng ký của xe. Tịch thu tiêu hủy: 01 xi lanh, 01 ống nước cất Novocain; 03 phong bì chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định và tuyên án phí đối với bị cáo.
Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngoài ra không tranh luận gì. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Duy Tiên và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 15 giờ 10 phút ngày 14/12/2020, tại tổ dân phố Đồng Văn, phường Đồng Văn, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, Lê Tiến Hải có hành vi tàng trữ trái phép 09 gói ma túy là Heroine, có tổng khối lượng 0,751 gam, để sử dụng thì bị Công an phường Đồng Văn bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan.
Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu trật tự trị an tại địa phương. Hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm, hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; bị cáo có thân nhân có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ nhận định trên, xét thấy hành vi của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, bản thân bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy vì vậy cần cách ly khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về nguồn gốc ma túy: Đối với người đã bán ma túy cho bị cáo do không xác định được là ai, ở đâu nên không có căn cứ xử lý.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 di động viettel; 260.000đ không liên quan đến tội phạm cần trả lại cho bị cáo. Đối với xe mô tô 53V4-8291 và đăng ký của xe là tài sản riêng của bị cáo, bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước. Đối với: 01 xi lanh, 01 ống nước cất Novocain; 03 phong bì chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Tiến Hải phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Lê Tiến Hải 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/12/2020.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo: 01 di động viettel; 260.000đ (Hai trăm sáu mươi ngàn đồng).
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô BKS 53V4-8291 và đăng ký của xe.
Tịch thu tiêu hủy: 01 xi lanh, 01 ống nước cất Novocain; 03 phong bì chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định.
(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an thị xã Duy Tiên và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên. Riêng số tiền được chuyển qua tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên)
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Lê Tiến Hải phải nộp: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Báo cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Đ iều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Hà Nam;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Hà Nam;
- Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
- Công an thị xã Duy Tiên;
- VKSND thị xã Duy Tiên;
- Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;
- Bị cáo; người có QLNVLQ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Trần Ngọc Thuận
Từ nhận định trên, HĐXX nhận thấy bị cáo là một người nghiện ma túy nên cần phải ấn định mức hình phạt nghiêm khắc cách ly khỏi xã hội đủ để bị cáo có thời gian cai nghiện, đồng thời cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về nguồn gốc ma túy: Do không xác định được là của ai, ở đâu nên Cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý.
Về vật chứng vụ án:
Đối với 01 chiếc phong bì niêm phong số 162/PC09-MT có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam, xác định đây là vật chứng cấm lưu hành liên quan đến vụ án nên HĐXX cần tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphon đã cũ màu trắng bạc, bên trong có một sim điện thoại; 01 ví giả da màu nâu đã cũ rách, bên trong có 01 căn cước công dân mang tên Trương Văn Điệp; số tiền 77.000 đồng. Qua đấu tranh xác định đây là tài sản hợp pháp của bị cáo nên trả lại cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn Điệp phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Trương Văn Điệp 24( Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/8/2020.
2. Vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì niêm phong số 162/PC09-MT và dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam.
Trả lại cho bị cáo Trương Văn Điệp: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphon đã cũ màu trắng bạc, bên trong có một sim điện thoại; 01 ví giả da màu nâu đã cũ rách, bên trong có 01 căn cước công dân mang tên Trương Văn Điệp và số tiền 77.000đ (Bẩy mươi bẩy nghìn) đồng.
(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an thị xã Duy Tiên và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên ngày 01/12/2020).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo Trương Văn Điệp phải nộp: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - Công an thị xã Duy Tiên; - VKSND thị xã Duy Tiên; - Chi cục THADS thị xã Duy Tiên; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Tiến Đông |