- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố Đoàn Thị Ngọc Nh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 299 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| - 1 - TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G TỈNH L Bản án số: 35/2022/HSST Ngày: 07-4-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G – TỈNH L
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Công Danh.
Ông Đặng Văn Vững.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện G
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G: Bà Trần Tiến Diễm Hoa – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 4 năm 2022 tại Trụ sở, Tòa án nhân dân huyện G tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2022/TLST - HS ngày 17 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2022/QĐXXST-HS, ngày 23 tháng 3 năm 2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đoàn Thị Ngọc Nh, sinh năm: 1981.
Tên gọi khác: Trung.
Nơi ĐKTT và chỗ ở: Tổ 9, khu phố Thanh Ba, thị trấn G, huyện G, tỉnh L; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lý Văn Tài (đã chết) và bà Đoàn Thị Hai; Bản thân chồng tên Lương Minh (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2000; Tiền án – tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/9/2021 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 21 giờ 15 phút ngày 29/9/2021, lực lượng Công an thị trấn G tiến hành tuần tra trên tuyến đường tránh Quốc lộ 50 thuộc Khu phố Long Phú, thị trấn G, huyện G, tỉnh L thì phát hiện Đoàn Thị Ngọc Nh đang điều khiển xe đạp có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Qua
- 2 -
kiểm tra, phát hiện trong túi áo khoác bên trái của Nh có 03 (ba) đoạn ống hút màu trắng được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy nên tiến hành lập biên bản, tạm giữ chất nghi là ma túy và mời Nh về làm việc.
Tại Kết quả giám định số 779/2021/KLGĐ ngày 08/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L, xác định: chất bột màu trắng đựng trong 03 (ba) đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu, được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 0,1059 gam, loại Heroine. Không hoàn lại đối tượng giám định: mẫu phục vụ hết cho công tác giám định, vỏ bao gói đựng mẫu được niêm phong.
Quá trình điều tra, Nh khai nhận: do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 29/9/2021, Nh điều khiển xe đạp trên đường tránh Quốc lộ 50 để tìm mua ma túy. Sau đó, Nh gặp đối tượng tên Quang, không rõ họ tên, địa chỉ và nhờ Quang liên hệ, đặt mua ma túy giúp Nh. Quang gọi điện thoại và dặn Nh đến khu vực cầu G cũ, nhét tiền vào trong thanh sắt, khoảng 15 phút sau quay lại lấy ma túy. Nh làm theo và mua được 03 (ba) tép ma túy Heroine với giá 300.000 đồng. Đến khoảng 21 giờ 15 phút, cùng ngày, khi Nh đang đạp xe trên tuyến tránh QL50 thì bị lực lượng Công an phát hiện.
Tại bản cáo trạng số 36/CT-VKSCG ngày 17/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện G truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt Đoàn Thị Ngọc Nh từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng là xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác
- 3 -
không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo Nh là đối tượng sử dụng ma túy, nên vào khoảng khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 29/9/2021, đã nhờ đối tượng tên Quang, không rõ nhân thân liên hệ mua ma túy giúp Nh. Sau đó, khoảng 21 giời 00 phút cùng ngày, theo hướng dẫn của đối tượng Quang, Nh đến khu vực cầu G cũ nhét số tiền 300.000 đồng vào trong thanh sắt, khoảng 15 phút sau quay lại lấy 03 (ba) tép ma túy, Nh cất giấu trong túi áo khoác bên trái rồi chạy xe về nhà. Đến khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày, khi Nh đang đi xe đạp trên tuyến đường tránh Quốc lộ 50 thì bị Công an kiểm tra, phát hiện số ma túy trên và lập biên bản tạm giữ. Theo Kết luận giám định số 779/2021/KLGĐ ngày 08/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L, kết luận: chất bột màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,1059 gam, loại: Heroine. Ma túy bị cáo tàng trữ là ma túy loại Heroine có khối lượng trên 0,1 gam đến dưới 05 gam, nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi trái pháp luật của bị cáo là nguy hiểm, bị cáo thừa biết ma tuý là chất độc hại, gây nghiện làm tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần và thể chất con người nên Nhà nước thống nhất quản lý và nghiêm cấm các hành vi như sản xuất, mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý, nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, ngoài ra việc sử dụng ma túy là một trong các tác nhân gây ra các tệ nạn xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần thiết xử lý bị cáo bằng một hình phạt thoả đáng mới có thể giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự: không.
Xét về tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự: bị cáo phạm tội nhưng thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra tại phiên tòa bị cáo còn trình bày là hiện đang bị nhiễm HIV, nhưng không có chứng cứ gì chứng minh. Xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và hiện đang bị tạm giam nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- 4 -
Đối với đối tượng tên Quang, người mà Nh khai nhận đã liên hệ mua ma túy giúp Nh. Qua điều tra, Cơ quan công an không xác minh được nhân thân lai lịch đối tượng có đặc điểm như Nh miêu tả nên không có căn cứ để xử lý.
Về tang vật thu giữ của bị cáo: 01 (một) xe đạp bằng kim loại, không có nhãn hiệu, đã qua sử dụng đã hoàn trả cho chị Nguyễn Thị Kim Ngân; 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobistar màu trắng, sim số 0903.156.520, đã qua sử dụng đã hoàn trả cho bà Đoàn Thị Hai. Do chị Ngân, bà Hai cho bị cáo mượn để sử dụng, không liên quan đến việc phạm tội. Đối với khối lượng ma túy, loại Heroine, mẫu vật đã phục vụ hết cho công tác giám định mẫu, nên không đề cập.
Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố Đoàn Thị Ngọc Nh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Đoàn Thị Ngọc Nh 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 30/9/2021.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (07/4/2022) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Về án phí: bị cáo Nh phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh L; -VKSND huyện G; -CA huyện G; -THADS huyện G; -Bị cáo; đương sự; -Lưu hồ sơ; -Lưu án văn. TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G TỈNH L - 5 - BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi 9 giờ 00 phút ngày 07 tháng 4 năm 2022. Tại: trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh L. Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo. Hội thẩm nhân dân: 17/3/2021 đối với bị cáo: Đoàn Thị Ngọc Nh. Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự. tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU: 1.Về tội danh: Bị cáo Đoàn Thị Ngọc Nh phạm tội “Tàng trử trái phép chất ma túy”. Kết quả biểu quyết: 3/3. 2. Về Điều luật áp dụng: Bộ luật hình sự. Kết quả biểu quyết: 3/3. 3. Về hình phạt: 30/9/2021. từ ngày tuyên án (07/4/2022) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án. Kết quả biểu quyết: 3/3. 4. Các vấn đề khác: Về án phí: bị cáo Nh phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. - 6 - trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Kết quả biểu quyết: 3/3. Nghị án kết thúc vào hồi 9 giờ 15 phút, cùng ngày. xử cùng nghe và ký tên. HỘI THẨM NHÂN DÂN NGUYỄN CÔNG DANH – ĐẶNG VĂN VỮNG | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa NGUYỄN ĐỨC BẢO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc G, ngày 07 tháng 4 năm 2022 Ông Nguyễn Công Danh. Ông Đặng Văn Vững. Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2022/TLHS-ST, ngày Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Xử phạt: Đoàn Thị Ngọc Nh 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể n xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên của Hội đồng xét CHỦ TOẠ NGUYỄN ĐỨC BẢO |