- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Quang B phạm tội TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Quang B phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2022/HS-ST Ngày 25 - 5 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Minh Chiểu.
2. Bà Hoàng Thị Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nương - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hạnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 5 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2022/TLST - HS ngày 14 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2022/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Quang B, sinh ngày 07 tháng 11 năm 1984 tại xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn T, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Quang B2 (đã chết) và bà: Trịnh Thị H (đã chết); Gia đình bị cáo có 05 anh em, bị cáo là thứ 4, chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/01/2022 đến ngày 26/01/2022 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1974 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn L, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
2. Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1972 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn L, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
3. Chị Lê Thị T3, sinh năm 1980 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn L, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 45 phút ngày 17/01/2022, tổ công tác của Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Yên Định trong quá trình làm nhiệm vụ tại khu vực thôn L, xã Y, huyện Yên Định phát hiện Phạm Quang B đang điều khiển xe máy nhãn hiệu SYM Salut màu xanh đen, biển kiểm soát 39L9-2703 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính đối với B. Qúa trình điều tra phát hiện, B đang cầm trong lòng bàn tay trái 02 gói giấy được bọc bằng lớp băng dính màu đen, bên trong 02 gói giấy có các cục chất bột màu trắng. Qúa trình kiểm tra, B đã thả 02 gói giấy nói trên xuống mặt đường bê tông chỗ B đang đứng. Qua khai thác nhanh tại chỗ, B khai nhận các cục chất bột màu trắng nên trên là ma túy, B mua để sử dụng, tuy nhiên chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện. Cơ quan điều tra đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đối với Phạm Quang B (BL 01, 02).
Tại bản kết luận giám định số 577/PC09 ngày 24/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa xác định: Các cục chất bột màu trắng của phong bì gửi niêm phong là ma túy, có tổng khối lượng là 0,185g, loại Heroine (BL 16).
Về nguồn gốc ma túy, B khai: Trước đó vào khoảng 07 giờ 40 phút ngày 17/01/2022, B đã mua số ma túy trên của một người đàn ông không quen biết tại khu vực cầu Kênh thuộc địa phận thôn L, xã Y, huyện Yên Định với giá 400.000đ để sử dụng. Đến 09 giờ 45 phút cùng ngày, khi đang trên đường đi tìm nơi sử dụng thì bị Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên (BL 62-64).
Về người đàn ông bán ma túy, B khai không quen biết và không cung cấp được các thông tin về nhân thân của người này, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra mở rộng vụ án.
Tại cơ quan điều tra, Phạm Quang B đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn, hối cải về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bản thân. Lời khai của B phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết quả giám định ma túy và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ xác định Phạm Quang B đã tàng trữ trái phép 0,185g Heroine.
Xác minh tài sản của Phạm Quang B không có tài sản riêng nào có giá trị.
Về vật chứng vụ án: Thông qua bắt quả tang, Cơ quan điều tra đã thu giữ:
- 02 gói giấy được bọc bên ngoài bằng băng dính màu đen, bên trong 02 gói giấy có các cục chất bột màu trắng (sau giám định, cơ quan giám định đã hoàn lại mẫu vật giám định, gồm toàn bộ bao gói đã mở niêm phong và 0,164g các cục chất bột màu trắng). Tất cả được cho vào phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký có ghi rõ họ tên Lê Minh Tiến, Lê Văn Cao và các hình dấu của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa;
- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu SYM Sulut, màu xanh đen, biển kiểm soát 36-L9.2703 đã qua sử dụng của B.
Số vật chứng trên hiện đang được bảo quản, chờ xử lý theo quy định.
Tại bản cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 13/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định đã truy tố Phạm Quang B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Phạm Quang B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Quang B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Phạm Quang B từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 17/01/2022; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định và tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc xe máy nhãn hiệu SYM Sulut, màu xanh đen, biển kiểm soát 36-L9.2703 đã qua sử dụng của B; Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận: Bị cáo B không có tranh luận gì với Đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng và quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Như vậy, hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Định; hành vi của Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Phạm Quang B đã hoàn toàn thừa nhận: Vào hồi 09 giờ 45 phút ngày 17/01/2022, tại thôn L, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, Phạm Quang B đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,185g Heroine, với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị công an phát hiện, bắt quả tang.
Lời khai nhận của bị cáo B tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định ma túy cũng như các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: hành vi tàng trữ 0,185g Heroine của bị cáo Phạm Quang B đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Đây là vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy có tính chất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hậu quả của việc sử dụng ma túy đã ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, là một trong những nguyên nhân chính gây ra các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Do vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc để răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội. Qúa trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo B là đối tượng nghiện ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về người đàn ông bán ma túy cho B, B không quen biết và không cung cấp được các thông tin về nhân thân của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra mở rộng vụ án.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định 0,164g loại: heroine, là vật Nhà nước cấm lưu hành nên phải tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc xe máy của B nhãn hiệu SYM Sulut, màu xanh đen, biển kiểm soát 36-L9.2703, xe không gương chiếu hậu, không cánh yếm, đã qua sử dụng là công cụ B dùng thực hiện phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước là phù hợp.
[7] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Quang B phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Quang B 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 17/01/2022.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo B.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 0,164g loại heroine là mẫu vật còn lại sau giám định đựng trong 01 phong bì niêm phong do Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Văn Cao, Lê Minh Tiến và các hình dấu của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa (mặt trước phong bì ghi vụ Phạm Quang B);
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu SYM Sulut, màu xanh đen, biển kiểm soát 36-L9.2703, xe không gương chiếu hậu, không cánh yếm, xe đã qua sử dụng của Phạm Quang B.
Hiện các vật chứng trên được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định theo phiếu nhập kho số NK33 ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Quang B phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hoá; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Yên Định; - Công an huyện Yên Định; - Chi cục THADS Yên Định; - Bị cáo; - Lưu: hồ sơ, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoa |