- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Thanh S - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thanh S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 35/2022/HS-ST Ngày: 13-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tựu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Thành Nam.
Bà Dương Thị Quyên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Quốc Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Hiền Nhỏ - Kiểm sát viên.
Vào ngày 06 tháng 12 và ngày 13 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2022/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2022/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2022/HSST-QĐ ngày 06 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Huỳnh Thanh S, sinh ngày 10 tháng 9 năm 1991; Nơi sinh: tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: XXX; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn H, sinh năm: 1967 (Sống) và con bà Võ Thị Hoàng O, sinh năm: 1967 (Sống); Có vợ Võ Cẩm L, sinh năm: 2003; Con 01 người tên: Huỳnh Võ Khả H, sinh năm: 2021; Anh (chị) em ruột: 03 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Tạm giữ ngày: 23/5/2022; Tạm giam ngày: 01/6/2022. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tân Hồng. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Nguyễn Thị T, sinh năm 1971 (đã chết).
- Đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị T:
1. Nguyễn Văn B, sinh năm 1976 (chồng của bị hại T) (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Nguyễn Minh T, sinh ngày 08-3-1999 (con của bị hại T).
3. Nguyễn Minh TA, sinh ngày 16-01-2001 (con của bị hại T).
4. Nguyễn Thị Huế Trân, sinh ngày 06-02-2010 (con của bị hại T).
Cùng cư trú: XXX.
Đại diện theo ủy quyền của Nguyễn Minh T, Nguyễn Minh TA là Nguyễn Văn B ( theo giấy ủy quyền chứng thực ngày 21-9-2022).
Đại diện theo pháp luật của Nguyễn Thị Huế T là Nguyễn Văn B (cha của T).
- Bị hại: Nguyễn Thanh T, sinh năm 1990 (đã chết).
- Đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thanh T:
1. Nguyễn Thanh H, sinh năm 1968 (cha của bị hại Th) (có mặt).
2. Trần Thị Kim L, sinh năm 1970 (mẹ của bị hại Th) (có mặt).
Cùng cư trú: XXX.
3. Trần Kim N, sinh năm 2004 (vợ của bị hại Th).
Cư trú: XXX.
Đại diện theo ủy quyền của Trần Thị Kim L, Trần Kim N là Nguyễn Thanh H ( theo giấy ủy quyền chứng thực ngày 07-9-2022).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Huỳnh Văn H, sinh năm 1967 (cha của bị cáo S) (có mặt).
Cư trú: XXX.
2. Võ Thành T, sinh năm 1989 (có mặt).
Cư trú: XXX.
- Người làm chứng:
1. Trương Điền G, sinh năm 1984 (có mặt).
Cư trú: XXX.
2. Nguyễn Hoàng K, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Cư trú: XXX
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 05 giờ ngày 23/5/2022, anh Trương Điền G điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát: 66C - 100.86 chở theo Huỳnh Thanh S và Nguyễn Thanh T đi từ huyện XXX đến XXX để giao thức ăn chăn nuôi vịt của đại lý Võ Thành T cho chị Nguyễn Thị T, sau đó thu mua hột vịt của chị Th đem về. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày thì anh G điều khiển xe ô tô tải đến khu đất trống thuộc ấp XXX giao thức ăn chăn nuôi vịt cho chị Th. Sau khi giao thức ăn xong thì S cùng với anh T đưa hột vịt lên xe và kiềng (cột) dây lại, còn anh G thì đi xuống mé sông để rửa tay, anh T đi lại chổ chị Th tính tiền thức ăn chăn nuôi và tiền hột vịt, sau đó S tự lấy xe ô tô tải biển kiểm soát: 66C-100.86 (S không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển chạy ra cặp đường đal, do S đạp chân thắng nhưng bị trượt qua bên chân ga, làm cho xe chạy thẳng về phía trước cán trúng vào chị Th và anh T đang ngồi tính tiền. Hậu quả: làm chị Th và anh T tử vong.
Vật chứng của vụ án thu giữ được:
- 01 xe ô tô tải nhãn hiệu KIA, biển kiểm soát: 66C - 100.86, màu sơn: xanh; số máy: J002343D4CB, số khung: RNHA05KHAKC090162. Hiện Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh Võ Thành T quản lý, sử dụng.
* Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 23/5/2022 thể hiện như sau: Hiện trường vụ tai nạn tại bãi đất trống bên cạnh tuyến đường đal thuộc địa phận ấp XXX. Tại nơi xảy ra tai nạn là bãi đất trống tuyến dân cư Thống Nhất 2, dạng đất khô không bằng phẳng, có lớp cỏ xanh xen lẫn, có khu vực chuồng nuôi vịt.
- Quá trình khám nghiệm hiện trường chọn lề bên trái tuyến đường đal XXX theo hướng từ XXX đi XXX làm lề chuẩn, tất cả các dấu vết, phương tiện đế lại tại hiện trường đều được đo vào lề chuẩn. Đồng thời chọn trụ điện số 472HN/160/73 làm điểm mốc của hiện trường. Trụ điện số 472HN160/73 cách lề chuẩn là l,5 mét đồng thời chọn hướng khám nghiệm hiện trường theo hướng như trên.
- Điểm va chạm nằm trên bề mặt cỏ trong vùng đất trống bên ngoài chuồng vịt, tại dây bề mặt cỏ có nhiều tác động và có 02 chiếc dép nhựa cao su, 01 chiếc màu xanh lá (loại dép nam), 01 chiếc màu đỏ (loại dép nữ); tâm điểm va chạm cách lề là 12,4 mét.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 176/TTh-TTPY ngày 26-5-2022 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Đồng Tháp kết luận nguyên nhân tử vong của Nguyễn Thị T do: Suy hô hấp cấp + Shook đa chấn thương.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 177/TTh-TTPY ngày 26-5-2022 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Đồng Tháp kết luận nguyên nhân tử vong của Nguyễn Thanh T do: Chấn thương sọ não nặng.
Trong quá trình điều tra Huỳnh Thanh S tác động gia đình thỏa thuận bồi thường cho đại điện gia đình bị hại Nguyễn Thanh T, số tiền: 250.000.000 đồng và thỏa thuận bồi cho đại diện gia đình bị hại Nguyễn Thị T được số tiền: 60.00.000 đồng xong, ngoài ra đại diện gia đình các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Đối với anh Võ Thành T có giao xe ô tô tải biển kiểm soát: 66C - 100.86 cho anh Trương Điền G (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển, việc Huỳnh Thanh S tự ý điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát: 66C - 100.86 xảy ra tai nạn dẫn đến anh Nguyễn Thanh T và chị Nguyễn Thị T tử vong anh T và anh G không không biết, do đó không xử lý đối với anh Võ Thành T và anh Trương Điền G về hành vi giao xe cho Huỳnh Thanh S.
Trong quá trình điều tra, bị cáo Huỳnh Thanh S đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Tại Cáo trạng số 29/CT-VKSTH ngày 13 tháng 10 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố Huỳnh Thanh S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, đ khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Huỳnh Thanh S thừa nhận toàn bộ hành vi của bị cáo như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo là có lỗi và vi phạm pháp luật.
Tại phiên tòa, ông Nguyễn Thanh H là đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thanh T yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Ông Nguyễn Văn B là đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị T xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa và có đơn yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại phần luận tội, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Huỳnh Thanh S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, đ khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi tai nạn xảy ra thì bị cáo đến Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Hồng đầu thu, bị cáo tác động gia đình bồi thường cho đại diện gia đình bị hại Nguyễn Thanh T, số tiền: 250.000.000 đồng và gia đình bị hại Nguyễn Thị T số tiền: 60.00.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại Th và đại diện gia đình bị hại T có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.
Từ những phân tích trên Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh S mức án từ: 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo tác động gia đình bồi thường cho đại diện gia đình bị hại Nguyễn Thanh T, số tiền: 250.000.000 đồng và gia đình bị hại Nguyễn Thị T số tiền: 60.00.000 đồng xong, đại diện gia đình các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.
Về vật chứng: Trong giai đoạn điều tra đã xử lý xong nên không xem xét xử lý.
Bị cáo; người đại diện hợp pháp và đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại; các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tham gia tranh luận.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Hồng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, Kiểm sát viên trong quá trình tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Từ khi khởi tố vụ án cho đến tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung Cáo trạng truy tố, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, biên bản khám nghiệm tử thi, kết luận giám định, lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên và người tham giam gia tố tụng khác và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, qua tranh tụng đã đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 23/5/2022 anh G điều khiển xe ô tô tải đến khu đất trống thuộc ấp XXX giao thức ăn chăn nuôi vịt cho chị Th. Sau khi giao thức ăn xong thì S cùng với anh T đưa hột vịt lên xe và kiềng (cột) dây lại, còn anh G thì đi xuống mé sông để rửa tay, anh T đi lại chổ chị Th tính tiền thức ăn chăn nuôi và tiền hột vịt, sau đó S tự lấy xe ô tô tải biển kiểm soát: 66C-100.86 (S không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển chạy ra cặp đường đal, do S đạp chân thắng nhưng bị trượt qua bên chân ga, làm cho xe chạy thẳng về phía trước cán trúng vào chị Th và anh T đang ngồi tính tiền. Hậu quả: làm chị Th và anh T tử vong.
Khi thực hiện hành vi vi phạm, bị cáo là người trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi, tuy hành vi của bị cáo xuất phát từ lỗi vô ý nhưng bản thân bị cáo lại không có giấy phép lái xe, hậu quả do hành vi vi phạm mà bị cáo gây ra đã làm cho 02 bị hại tử vong. Từ những phân tích trên, đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Điều luật trên quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;
…
đ) Làm chết 02 người”.
Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến an toàn công cộng, gây đau thương, mất mát cho gia đình của các bị hại, gây lo lắng cho nhiều người khi tham gia giao thông, vì vậy cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật, cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm để giáo dục cho bị cáo trở thành người tốt và có ích cho xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và qua tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.
Vì vậy Hội đồng xét xử nghĩ nên xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho bị cáo, nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật nước ta.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Xét thấy bị cáo chỉ làm nghề thuê mướn, nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Đã thỏa thuận bồi thường xong nên không xem xét giải quyết.
Về vật chứng: Trong giai đoạn điều tra đã xử lý xong nên không xem xét giải quyết.
Đối với anh Võ Thành T có giao xe ô tô tải biển kiểm soát: 66C - 100.86 cho anh Trương Điền G (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển, việc Huỳnh Thanh S tự ý điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát: 66C - 100.86 xảy ra tai nạn dẫn đến anh Nguyễn Thanh T và chị Nguyễn Thị T tử vong anh T và anh G không không biết, do đó không xử lý đối với anh Võ Thành T và anh Trương Điền G về hành vi giao xe cho Huỳnh Thanh S.
Về án phí: Bị cáo Huỳnh Thanh S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Xét thấy phát biểu luận tội; đề nghị mức hình phạt của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a, đ khoản 2 Điều 260, Điều 38; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thanh S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh S 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 23/5/2022).
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 12- 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Huỳnh Thanh S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 13-12-2022). Đối với người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐT; - VKSND tỉnh ĐT; - Sở Tư pháp tỉnh ĐT; - VKSND huyện Tân Hồng, tỉnh ĐT; - Cơ quan CSĐT CA Tân Hồng, ĐT; - Cơ quan THAHS CA Tân Hồng, ĐT; - CC THADS huyện Tân Hồng, tỉnh ĐT; - Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tựu |