- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đường Quốc D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đường Quốc D phạm: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2022/HS-ST Ngày 07/11/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B – TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Triệu Thị Huyền
Hội thẩm nhân dân: Ông Lăng Văn Thủy và ông Nguyễn Văn Giang
- Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Thị Bưởi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thắm – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B – tỉnh Bắc Kạn xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 33/2022/TLST-HS ngày 07tháng10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2022/QĐXXST-HS ngày 25tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:
Đường Quốc D. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 05tháng 01năm 1984 tại huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã H, huyện N, tỉnh Bắc Kạn;nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đường Quốc D và bà Lưu Thị H; vợ là Chu Thị H (đã li hôn), có 01 con. Tiền sự: Không. Tiền án: 01. Bản án số 23/2015/HSST ngày 23/9/2015 Tòa án nhân dân huyện N xử phạt 06 (sáu) năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo tại ngoại – có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Sầm Đức Tùng – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 29/6/2022, tổ công tác Công an huyện B làm nhiệm vụ tại thôn N, xã N, huyện B phát hiện Đường Quốc D trú tại thôn N, xã H, huyện N, tỉnh Bắc Kạn có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra D tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói nhỏ bằng túi nilonmàu trắng, bên trong có 02 gói nhỏ đều được gói bằng hai lớp giấy một mặt màu trắng, một mặt màu trắng bạc và giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục và bột. Tiến hành thử phản ứng nhanh phát hiện chất ma túy đối với số chất bột có trong 02 gói nhỏ trên. Kết quả thử phản ứng trùng với đặc trưng phản ứng của chất ma túy Heroine. Sau khi thử phản ứng số chất màu trắng dạng cục và bột có trong 02 gói nhỏ trên được niêm phong trong phong bì ký hiệu “D”.
Ngày 29/6/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đường Quốc D. Kết quả khám xét không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì. Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành cân xác định khối lượng số chất màu trắngcó trong 02 gói nhỏ thu giữ của Đường Quốc D có tổng khối lượng là 0,747g. Sau khi cân tiến hành niêm phong trong phong bì ký hiệu “GĐ” để gửi giám định.
Kết luận giám định số 138/KTHS-MT ngày 09/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bộttrong phong bì ký hiệu GĐ gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,747g (không phảy bảy bốn bảygam).
Quá trìnhđiều tra Đường Quốc D khai nhận: Sử dụng và nghiện ma túy từ năm 2014, 02 gói nhỏ có chứa chất màu trắng mà tổ công tác Công an huyện B thu giữ của D vào ngày 29/6/2022 là ma túy heroine. Nguồn gốc D có số ma túy trên là vào khoảng 12 giờ ngày 29/6/2022 D đi ô tô khách từ nhà xuống thành phố B1 mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực bệnh viện đa khoa cũ tỉnh Bắc Kạn D xuống xe gặp và mua 01 gói bằng túi nilon màu trắng bên trong có chứa 02 gói ma túy với số tiền 1.400.000đ của một người đàn ông lạ mặt khoảng 40 tuổi. Sau đó D đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông lạ mặt đến đường rẽ đi xã N thì xuống xe đi bộ tìm nơi sử dụng ma túy, đi được một đoạn thì bị tổ công tác Công an huyện B phát hiện kiểm tra, thu giữ ma túy.
Tại bản Cáo trạng số 34/CT-VKSBT ngày 05 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố bị cáo Đường Quốc D về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
* Điều luật có nội dung:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine,…có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo điểm, khoản, điều luật và tội danh như đã viện dẫn ở trên và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Đường Quốc D phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm ckhoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38/BLHS xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47/BLHS; Điều 106/BLTTHS tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu T141là mẫu chất trong phong bì ký hiệu GĐ còn lại 0,739g (không phảy bảy ba chín gam) cùng phong bì, bao gói cũ do cơ quan giám định hoàn trả; 01 phong bì niêm phong ký hiệu VC bên trong chứa giấy gói và phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “D”.
Về án phí: Miễn chịu án phí cho bị cáo
Bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng truy tố, không có khiếu nại về hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với việc truy tố, xét xử bị cáo về tội danh, điều luật, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như Kiểm sát viên đã trình bày. Đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc về điều kiện hoàn cảnh của bị cáo đã ly hôn, một mình nuôi con chưa thành niên; là đồng bào dân tộc thiểu số cư trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hộ nghèo; đã thành khẩn khai báo…để có mức án phù hợp và đề nghị miễn hình phạt bổ sung, án phí cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung, tại phiên tòa xác định: Do bản thân sử dụng chất ma túy nên ngày 29/6/2022 tại thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Bắc Kạn Đường Quốc D đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,747 gam ma túy, loại Heroinevới mục đích sử dụng cho bản thân.
Tại phiên tòa bị cáo D thừa nhận hành vi phạm tội, xét thấy lời khai nhận của bị cáo phù hợp với chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án. Căn cứ qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249/ BLHS thấy việc truy tố, xét xử bị cáo về: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy là có căn cứ pháp luật.
Xét tính chất, hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý của nhà nước đối với các chất gây nghiện; gây mất trật tự trị an tại địa phương. Cần được xử lý nghiêm bằng hình phạt pháp luật nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu,đã có tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy.Phải chịu 01 tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52/BLHS; được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo” qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS; có bố đẻ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến, được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51/BLHS. Bị cáo đã ly hôn, hiện nay đơn thân nuôi con chưa thành niên, đây cũng là các vấn đề Hội đồng xét xử cân nhắc khi quyết định hình phạt để vừa đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật mà vẫn có sự khoan hồng đối với hành vi phạm tội của bị cáo.
. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo và người đàn ông cho bị cáo đi nhờ xe đi mua ma túy, do không biết tên tuổi địa chỉ nên không có cơ sở xác minh.
Vật chứng: - 01 phong bì niêm phong ký hiệu T141 là mẫu chất trong phong bì ký hiệu GĐ còn lại 0,739g (không phảy bảy ba chín gam) cùng phong bì, bao gói cũdo cơ quan giám định hoàn trả; 01 phong bì niêm phong ký hiệu VC bên trong chứa giấy gói và phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “D”. Tất cả đều không có giá trị sử dụng, tịch thu tiêu hủy.
Hình phạt bổ sung và án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo,làm ruộng, thu nhập thấp; xác minh tại địa phương ngoài 04 thửa ruộng là nguồn sống chính thì không còn tài sản riêng khác nên không áp dụnghình phạt bổ sung và thuộc trường hợp được miễn án phí (hộ nghèo, có đơn xin miễn án phí).
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Đường Quốc D phạm: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đường Quốc D 17 (mười bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.
* Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
* Vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy số vật chứng không có giá trị sử dụng gồm: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T141 là mẫu chất trong phong bì ký hiệu GĐ còn lại 0,739g (không phảy bảy ba chín gam) do cơ quan giám định hoàn trả; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu VC bên trong chứa giấy gói và phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “D”. (Tất cả vật chứng số lượng, tình trạng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an – Thi hành án dân sự huyện B).
* Án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đường Quốc D.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND B; - VKSND tỉnh Bắc Kạn; - CA huyện B; - Bị cáo; - Người bào chữa cho bị cáo; - TA tỉnh; - Sở tư pháp; - Chi cục THADS; - Lưu Hồ sơ vụ án; - Lưu VP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Triệu Thị Huyền |