vanban.org

Bản án 35/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An Tuyên án 26/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự . Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn M 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn M phạm tội Tàng trữ tái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Quyết định số 326/2017/QĐ-UBND Ban hành Quy định quản lý chi…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH NGHỆ AN
---------------
Bản án số:35/2022/HS-ST
Ngày 26/7/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A – TỈNH NGHỆ AN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Lệ Hằng

Các hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Công Linh và bà Nguyễn Thị Hoa.

Ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Linh – Thư ký Toà án nhân dân huyện A, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Toàn – Kiểm sát viên.

Ngày 26/7/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 33/2022/HSST ngày 04/7/2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số39/2022/QĐXX-ST ngày 11/7/2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn M; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1993; Giới tính: Nam; HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã B, huyện A, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Quốc Tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Nguyễn Văn M; Con bà: Trần Thị H; Vợ: Nguyễn Thị H (Đã ly hôn) và 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại bản án số 07/2013/HSST ngày 19/3/2013 bị Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đã chấp hành án xong ngày 01/01/2014; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/6/2022, hiện nay đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện A, tỉnh Nghệ An; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Phan Văn N – Sinh năm: 1979 Trú tại: Thôn T, xã B, huyện A, tỉnh nghệ An – Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ, ngày 03/6/2022 trong quá trình tuần tra tại địa bàn xã P, huyện A, tỉnh Nghệ an, tổ công tác Công an huyện A nhận được tin báo quần chúng nhân dân có 01 đối tượng nam thanh niên đang ở nhà nghỉ T, thuộc thôn 1, xã P, huyện A có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác nhanh chóng bố trí lực lượng xác minh và tiến hành kiểm tra hành chính, quá trình kiểm tra hành chính xác định được nam thanh niên tên Nguyễn Văn M. Quá trình bị lực lượng chức năng kiểm tra phát hiện trong túi quần bên trái phía trước M đang mặc có 01 gói thuốc lá Thăng Long, trong gói thuốc có 02 gói nilong màu đen chứa các viên nén dạng hình tròn, màu hồng giống nhau, nghi là ma túy tổng hợp. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn M, thu giữ, niêm phong vật chứng liên quan sau đó yêu cầu đối tượng về trụ sở Công an huyện A để làm rõ nội dung sự việc.

Tại cơ quan CSĐT Công An huyện A, Nguyễn Văn M khai nhận: Khoảng 16 giờ, ngày 03/6/2022, Nguyễn Văn M điều khiển xe máy Yamaha màu đỏ đen, BKS 37M1-039.19 (M mượn xe máy của anh Phan Văn N, sinh năm 1979, cư trú tại thôn Tân Cát, xã B, huyện A) và rủ Nguyễn M D ở cùng thôn đi xuống thị trấn A chơi. Khi đi đến nhà nghỉ Thiên Sơn, M nói D điều khiển xe máy đi vào trong nhà nghỉ, còn M đi bộ vào trong thôn 1 xã P gặp một nam thanh niên lạ mặt hỏi mua ma túy với số tiền 2.000.000 đồng, nam thanh niên nhận tiền và đưa cho M 02 gói ma túy được bọc thành 02 gói nilong màu đen. M nhận số ma túy nhưng không kiểm tra số lượng và đi bộ vào nhà nghỉ. Khi đến sảnh nhà nghỉ Thiên Sơn thì bị lực lượng Công an huyện A kiểm tra hành chính, phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng.

Vật chứng thu giữ:

- 01 gói ni lông màu đen chứa 10 viên nén màu hồng, hình dạng tròn giống nhau, nghi là ma túy tổng hợp.

- 01 gói ni lông màu đen chứa 13 viên nén màu hồng, hình dạng tròn giống nhau, nghi là ma túy tổng hợp.

- 01 xe máy hãng Yamaha màu đỏ đen, BKS 37M1-039.19.

Sau khi bị bắt quả tang, do khi mua M không kiểm đếm số viên ma tuý mua được nên M khai là 22 viên (Hai mươi hai viên) ma tuý. Tuy nhiên, hội đồng mở niêm phong và xác định khối lượng đã xác định được số ma tuý thu giữ của Nguyễn Văn M là 23 viên (Hai mươi ba viên) cụ thể là:

- Tại gói nilong màu đen thứ nhất có 10 viên nén màu hồng, hình dạng tròn giống nhau có tổng khối lượng là 1 gam (Một gam). Hội đồng mở niêm phong đã lấy ngẫu nhiên 02 viên nén màu hồng có khối lượng 0,2 gam trong tổng số 10 viên, ghi ký hiệu D1, niêm phong lại. Số viên nén còn lại là 08 viên có khối lượng 0,8 gam được hội đồng niêm phong lại theo quy định có đầy đủ chữ ký các thành viên và của cả đối tượng.

- Tại gói nilong màu đen thứ hai, sau khi loại bỏ gói ni lông màu đen, xác định được số 13 viên nén màu hồng, hình dạng tròn giống nhau có tổng khối lượng là 1,3 gam (Một phẩy ba gam). Hội đồng mở niêm phong đã lấy ngẫu nhiên 02 viên nén màu hồng có khối lượng 0,2 gam trong tổng số 13 viên, ghi ký hiệu D2, niêm phong lại. Số viên nén còn lại là 11 viên có khối lượng 1,1 gam (Một phẩy một gam) được hội đồng niêm phong lại theo quy định có đầy đủ chữ ký các thành viên và của cả đối tượng.

Cơ quan CSĐT Công an huyện A, tỉnh Nghệ An đã gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An 02 mẫu vật ghi ký hiệu D1, D2 thu giữ của Nguyễn Văn M để trưng cầu giám định về chất ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 791/KL-PC09 (Đ2-MT) ngày 09/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An, kết luận: “02 (Hai) mẫu viên nén hình dạng tròn, màu hồng giống nhau (ký hiệu D1-D2) thu giữ của Nguyễn Văn M gửi tới giám định đều là ma túy (Methamphetamine; 23 (Hai mươi ba) viên nén hình dạng tròn, màu hồng giống nhau thu giữ của Nguyễn Văn M có tổng khối lượng là 2,3 gam (Hai phẩy ba gam).

Cáo trạng số 36/CT-VKS-AS ngày 04/7/2022 của VKSND huyện A, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

Áp dụng: Khoản 1 điều 249; Điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 30 - 33 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 19 viên ma túy (Methamphetamine) có khối lượng 1,9 gam (Một phẩy chín gam).

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Văn M không tranh luận gì với quan điểm của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng bị cáo nói: Hành vi của bị cáo là sai trái, vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều thực hiện đúng pháp luật.

Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt, tuy nhiên trong quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai của họ. Việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt của người làm chứng theo quy định tại Điều 292 và 293 của Bộ luật tố tụng hình sự là có căn cứ.

Về nội dung vụ án: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn M khai nhận về hành vi phạm tôi của mình như sau:

Vào khoảng 18 giờ,ngày 03/6/2022, tại sảnh nhà nghỉ T thuộc thôn 1, xã P, huyện A, Nguyễn Văn M đã có hành vi tàng trữ 2,3 gam (Hai phẩy ba gam) ma túy (Methamphetamine) nhằm mục đích để sử dụng thì bị Công an huyện A, tỉnh Nghệ An phát hiện và bắt giữ.

Tang vật thu giữ gồm:

- 01 gói ni lông màu đen chứa 10 viên nén màu hồng, hình dạng tròn giống nhau, nghi là ma túy tổng hợp.

- 01 gói ni lông màu đen chứa 13 viên nén màu hồng, hình dạng tròn giống nhau, nghi là ma túy tổng hợp.

- 01 xe máy hãng Yamaha màu đỏ đen, BKS 37M1-039.19.

Tại bản kết luận giám định số 791/KL-PC09 (Đ2-MT) ngày 09/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An, kết luận: “02 (Hai) mẫu viên nén hình dạng tròn, màu hồng giống nhau (ký hiệu D1-D2) thu giữ của Nguyễn Văn M gửi tới giám định đều là ma túy (Methamphetamine); 23 (Hai mươi ba) viên nén hình dạng tròn, màu hồng giống nhau thu giữ của Nguyễn Văn M có tổng khối lượng là 2,3 gam (Hai phẩy ba gam).

Căn cứ vào lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Văn M đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn M đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh Nghệ An đã truy tố là đúng quy định pháp luật.

Tội phạm mà bị cáo gây ra là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm lớn cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý.

Bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, động cơ và mục đích phạm tội là nhằm để sử dụng, mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy. Thời điểm bị cáo thực hiện phạm tội bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đã phạm.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là gây tác hại đến sức khoẻ, làm băng hoại giá trị đạo đức cũng như lối sống của chính bản thân bị cáo. Đây cũng là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội trên địa bàn nên cần phải xử lý nghiêm nhằm đấu tranh riêng và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo thấy rằng: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Vê nhân thân: Bị cáo có nhân thân không tốt, năm 2013 bị Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Sau khi chấp hành xong bản án, bị cáo không lấy đó làm bài học, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Chứng tỏ ý thức rèn luyện bản thân trở thành người tốt và ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo chưa tốt. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là thực sự cần thiết để bị cáo tiếp tục được giáo dục, rèn luyện trong môi trường pháp luật nghiêm khắc hơn để khi hoà nhập lại với cộng đồng trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét nghề nghiệp của bị cáo là lao động tự do, thu nhập khổng ổn định, bị cáo không có tài sản riêng gì. Mặt khác bị cáo tàng trữ trái phép chất ma tuý với mục đích là để sử dụng, không có mục đích thu lợi bất chính nên miễn hình phạt tiền cho bị cáo.

Xét hành vi liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo: Trong vụ án này có đối tượng bán ma tuý cho bị cáo nhưng không xác định được căn cước nên không có cơ sở để xử lý. Đối với anh Nguyễn M D đi chơi cùng với bị cáo nhưng không biết bị cáo mua ma tuý, còn anh Phan Văn N là người cho bị cáo mượn xe máy đi xuống thị trấn A. Tuy nhiên, anh D và anh N không biết bị cáo đi mua ma túy. Nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện A, tỉnh Nghệ An không xử lý trách nhiệm hình sự đối với anh D và anh N là đúng pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Thu giữ của Nguyễn Văn M 23 viên (Hai mươi ba viên) ma tuý (Methamphetamine), có khối lượng 2,3 gam (Hai phẩy ba gam). Trong quá trình điều tra đã lấy mẫu giám định hết 04 viên (Bốn viên) có khối lượng 0,4 gam (Không phẩy bốn gam) và đã được sử dụng hết trong quá trình giám định. Số ma túy thu giữ của Nguyễn Văn M còn lại là 19 viên (Mười chín viên) ma túy (Methamphetamine) có khối lượng 1,9 gam (Một phẩy chín gam) là loại hàng Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha màu đỏ đen, BKS 37M1-039.19 của anh Phan Văn N không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cơ quan CSĐT Công An huyện A đã trả lại chiếc xe máy nêu trên cho chủ sở hữu là đúng quy định pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự .

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn M 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2022.

* Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho bị cáo Nguyễn Văn M.

2/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng: Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 19 viên (Mười chín viên) ma túy (Methamphetamine) có khối lượng 1,9 gam (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/7/2022 giữa Công an huyện A và Chi cục thi hành án dân sự huyện A).

3/ Về án phí: Áp dụng điều 23 Nghị quyết 326/2017/QH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

4/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên Toà án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ