- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ Mã Ngọc P; BĐ Lâm Hoàng H"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mã Ngọc P đối với bị đơn ông Lâm Hoàng H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2022/HNGĐ-ST. Ngày: 03/8/2022 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Chiêu Hùng.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Triệu Khánh Long
Bà Nguyễn Huỳnh Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Phân - Kiểm sát viên.
Ngày 03/8/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự thụ lý số: 30/2022/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 02 năm 2022, về việc “Yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng,” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 16/6/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2022/QĐST-HNGĐ ngày 12/7/2022 giữa các đương sự;
- Nguyên đơn: Bà Mã Ngọc P; Sinh năm 1991 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: ấp C, xã H, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Ông Lâm Hoàng H; Sinh năm 1988 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp C, xã H, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/02/2022 (BL01), biên bản lấy lời khai ngày 04/3/2022 (BL29) và ngày 15/6/2022 (BL28) cũng như quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Mã Ngọc P trình bày: Vào năm 2012 bà Mã Ngọc P và ông Lâm Hoàng H tự nguyện sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau rất hạnh phúc nhưng được một thời gian thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong lối sống, không hợp nhau về tính cách, bất đồng ý kiến cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc và hai người đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Trong khoảng thời gian chung sống với nhau bà P và ông H không có con chung. Về tài sản chung tự thỏa thuận với nhau, nợ chung không có.
Bà Mã Ngọc P yêu cầu Tòa án giải quyết về hôn nhân: Tuyên bố quan hệ chung sống giữa bà P và ông Lâm Hoàng H không phải là vợ chồng vì không có đăng ký kết hôn. Về con chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.Về tài sản chung: Tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo biên bản ghi lời khai ngày 15 tháng 6 năm 2022 (BL28) bà P có trình bày lại là do không hiểu biết nên mới trình bày là tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng, nay bà P trình bày lại là yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà P được ly hôn với ông Lâm Hoàng H. Về con chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông H, nhưng ông H không có văn bản gửi cho Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà P, đồng thời ông H cũng không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia phiên tòa.
Tại phiên Tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, tuy nhiên sự chấp hành pháp luật của bị đơn chưa đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn. Về con chung và nợ chung không có nên không đặt ra xem xét. Về tài sản chung nguyên đơn trình bày tự thỏa thuận phân chia nên không đặt ra xem xét. Về nghĩa vụ chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập xét xử đến lần thứ hai cho ông H, nhưng ông H vẫn vắng mặt không có lý do, bà P có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt bà P và ông H theo quy định của pháp luật.
Khi thụ lý Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng”, tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn cung cấp giấy trích lục kết hôn giữa nguyên đơn Mã Ngọc P và bị đơn ông Lâm Hoàng H cho Tòa án nên Hội đồng xét xử xác định lại quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn” cho phù hợp và đúng theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Mã Ngọc P, nhận thấy bà P và ông H tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2012, hôn nhân là do mai mối, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 05/01/2012. Quan hệ hôn nhân của bà P và ông H không vi phạm các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nhưng sau một thời gian chung sống, đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do bất đồng ý kiến thường xảy ra mâu thuẫn với nhau. Bà P nhận thấy cuộc sống chung không hạnh phúc, không còn tình cảm vợ chồng với ông H nên có nguyện vọng ly hôn. Bà P và ông H đã không còn chung sống từ tháng 01 năm 2021 cho đến nay, từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa các bên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà P được ly hôn với ông H.
Về con chung: Bà P khẳng định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Bà P khẳng định tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Bà P khẳng định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bà P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Căn cứ vào điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mã Ngọc P đối với bị đơn ông Lâm Hoàng H.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Mã Ngọc P được ly hôn với ông Lâm Hoàng H.
- Về con chung: Bà P khẳng định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về tài sản chung: Bà P khẳng định tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về nợ chung: Bà P khẳng định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
2/ Về án phí sơ thẩm: Bà Mã Ngọc P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo Biên lai số 0002242, ngày 14/02/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà P đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp án phí. Ông Lâm Hoàng H không phải chịu án phí sơ thẩm.
3/ Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ST (Phòng KTNV&THA); - VKSND thị xã Vĩnh Châu; - Đương sự; - Chi cục THADS thị xã Vĩnh Châu; - UBND xã H, TX Vĩnh Châu; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dương Chiêu Hùng |