vanban.org

Bản án 35/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thu H đối với bị đơn ông Phạm Ngọc Anh D. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Trần Thị Thu H được ly hôn với ông Phạm Ngọc Anh D. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Thu H - Phạm Ngọc Anh D"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH THẠNH
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 29- 7- 2022
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ánh Đào.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Bảy – Trưởng Phòng Lao động thương binh và Xã hội huyện.

2. Bà Đoàn Sơn Lâm – Nguyên cán bộ huyện đoàn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thạch– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Bà Khổng Phúc Vĩnh Nhật - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 31/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2022 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2022/QĐXX- HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1994. Có mặt

2. Bị đơn: Ông Phạm Ngọc Anh D, sinh năm 1993. Vắng mặt lần 2.

Cùng địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện V, thành phố C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị Thu H trình bày và yêu cầu: Bà và ông Phạm Ngọc Anh D do tự quen biết, cùng yêu thương và tự nguyện tiến tới hôn nhân vào tháng 11/2016. Có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn không hạnh phúc đến khoảng tháng 03/2021 thì sống ly thân cho đến nay. Nguyên nhân là do ông D không chăm lo cho cuộc sống gia đình, chỉ lo ăn chơi cờ bạc, công việc làm ăn kinh tế tài chính gia đình luôn gặp khó khăn dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cãi. Trong thời gian ly thân, cả hai có gặp nhau nhưng không có hàn gắn tình cảm, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông D. Quá trình chung sống vợ chồng có 01 người con chung là cháu Phạm Ngọc Anh Q, sinh ngày 16/4/2017. Từ khi ly thân cho đến nay cháu Q sống với bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Q, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, riêng và nợ chung không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn ông Phạm Ngọc Anh D trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về việc có đăng ký kết hôn, thời gian ly thân cũng như nguyên nhân mâu thuẫn. Nay bà H yêu cầu ly hôn thì ông không đồng ý, do còn thương vợ, con. Về con ông chưa suy nghĩ đến việc giao con cho ai vì không nghĩ đến việc sẽ ly hôn. Về tài sản chung, riêng và nợ chung không yêu cầu giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay là đúng theo quy định pháp luật, đồng thời phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông D. Về con chung: Giao cháu Q cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng, ông D không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, riêng và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà H yêu cầu ly hôn với ông D nên quan hệ pháp luật được xác định là tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông D có nơi cư trú tại ấp C, xã T, huyện V, thành phố C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc vắng mặt đương sự: Ông D vắng mặt tại phiên tòa lần 2 không có lý do. Nên căn cứ vào các Điều 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông D là có cơ sở.

Về nội dung

Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông D có đăng ký kết hôn là hoàn toàn tự nguyện nên là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của bà H, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo lời trình bày của đương sự thì cuộc sống của bà và ông D không hạnh phúc. Nguyên nhân chính là do kinh tế gia đình, ông D sống vô tâm, không chăm sóc vợ và con, bà H đã nhiều lần khuyên can, cho cơ hội nhưng ông D vẫn không thay đổi. Từ đó, dẫn đến vợ chồng ngày càng bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn kéo dài, thường xuyên cự cải. Nên bà và ông D đã sống ly thân từ tháng 3/2021 cho đến nay. Từ khi ly thân cả hai có gặp nhau cũng như không có biện pháp hàn gắn tình cảm, cho thấy hôn nhân giữa ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông D theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và Gia đình là có cơ sở.

Về con chung: Bà H và ông D có 01 con chung là cháu Phạm Ngọc Anh Q, sinh ngày 16/4/2017. Từ khi ly thân đến nay cháu Q sống với bà H. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.

Xét về vấn đề nuôi con: Việc giao con cho ai nuôi phải xem xét quyền lợi mọi mặt của con, từ khi ly thân đến nay cháu Q do bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, để tạo điều kiện trong sinh hoạt và ổn định tâm lý cho cháu nên cần chấp nhận yêu cầu của bà H được tiếp tục nuôi dưỡng con chung theo quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và Gia đình là phù hợp.

Xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Việc cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của cha mẹ, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Xét quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay bà H cho rằng bà có khả năng nuôi con nên không yêu cầu ông D cấp dưỡng là tự nguyện nên Hội đồng xét xử không buộc ông D phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và Gia đình là phù hợp.

Về tài sản chung, riêng và nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu, nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp với quy định nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Các Điều 9, 53, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thu H đối với bị đơn ông Phạm Ngọc Anh D.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Trần Thị Thu H được ly hôn với ông Phạm Ngọc Anh D.

2. Về con chung: Có 01 con chung. Giao cháu Phạm Ngọc Anh Q, sinh ngày 16/4/2017, cho bà Trần Thị Thu H tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ông Phạm Ngọc Anh D không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Phạm Ngọc Anh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết có thể yêu cầu thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con hoặc người nuôi con.

3. Về tài sản chung, riêng và nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu. Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Bà Trần Thị Thu H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0006087 ngày 11/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ. Công nhận bà H đã nộp và chi xong.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ