vanban.org

Bản án 35/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị A đối với anh Võ Thanh B.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị A được ly hôn với anh Võ Thanh B; 2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Võ Đình C, sinh ngày 30/5/2008 và Võ Thị Anh D, sinh ngày 15/4/2011 cho chị Hồ Thị A tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị A đối với anh Võ Thanh B.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 21/01/2022
V/v tranh chấp: “Xin ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Lil;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Kiều Phương;

2. Ông Nguyễn Hoa Kiều;

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thanh Phong, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Thanh – Kiểm sát viên;

Trong ngày 21 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 220/TLST-HNGĐ ngày 11/5/2021 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/11/2021 và quyết định hoãn phiên tòa số: 153/2021/QĐST-HNGĐ ngày 07/12/2021 và quyết định hoãn phiên tòa số: 169/2021/QĐST-HNGĐ ngày 30/12/2021giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Hồ Thị A, sinh năm 1987 (xin vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp M, xã N, huyện X, tỉnh Tiền Giang;

2. Bị đơn: Võ Thanh B, sinh năm 1986 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp M, xã N, huyện X, tỉnh Tiền Giang;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn chị Hồ Thị A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Võ Thanh B qua tìm hiểu và tự nguyện sống chung vào năm 2007 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, vào ngày 13/3/2007. Thời gian đầu sống rất hạnh phúc, nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, cãi vã, anh B hiện đã có người phụ nữ khác nên vợ chồng hiện đã ly thân với nhau từ tháng 09/2020 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu xin ly hôn với anh Võ Thanh B.

Về con chung: có 02 con chung tên Võ Đình C, sinh ngày 30/5/2008; Võ Thị Anh D, sinh ngày 15/4/2011; hai con hiện đang sống với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu tiếp tục nuôi hai con chung yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng/01 con/tháng, hai con 2.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có;

Bị đơn anh Võ Thanh B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo qui định pháp luật, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng và không có gửi văn bản ghi ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị A đối với anh B.

Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Việc tuân thủ pháp luật về thẩm quyền giải quyết, về quan hệ tranh chấp, về thu thập chứng cứ đúng theo qui định pháp luật tố tụng; Về thời hạn chuẩn bị xét xử, gửi hồ sơ có vi phạm về thời gian; Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa đúng quy định.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ về quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của họ theo quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Viện kiểm sát có lập luận lý do chị Võ Thanh B xin ly hôn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, đã ly thân từ tháng 09/2020 đến nay do anh B không quan tâm, chăm sóc vợ con, anh B triệu tập không đến chứng tỏ anh không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng nên đề nghị Tòa cho chị A ly hôn và giao 02 con chung chưa trưởng thành cho chị A nuôi theo yêu cầu chị A là có cơ sở và giao cho chị A tiếp tục nuôi con chung, buộc anh B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng/tháng/02 con chung là phù hợp; Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Kiến nghị khắc phục vi phạm: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử xét thấy.

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Hồ Thị A và anh Võ Thanh B qua tìm hiểu, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã N cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2007 là hôn nhân hợp pháp. Nay tranh chấp được xem xét giải quyết theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình.

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Hồ Thị A có đơn xin xét xử vắng mặt với lý do bận việc. Bị đơn anh Võ Thanh B đã được triệu tập hợp lệ xét xử, nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị A, anh B.

Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị A Hội đồng xét xử nhận thấy nguyên nhân chị A xin ly hôn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, dẫn đến xung đột, có nhiều mâu thuẫn, anh B có người phụ nữ bên ngoài không quan tâm, chăm sóc vợ con, không chăm lo kinh tế gia đình nên mâu thuẫn giữa anh chị rất trầm trọng, vợ chồng không còn chung sống, đã ly thân từ tháng 09/2020 đến nay, mục đích hôn hiện tại không đạt được, chị A kiên quyết xin ly hôn để ổn định cuộc sống là có căn cứ. Phía anh B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh B vẫn không đến Tòa án và cũng không có gửi văn bản ghi ý kiến hay phản đối gì về yêu cầu khởi kiện của chị A, điều đó cho thấy anh B không có thiện chí để hàn gắn tình cảm với chị A nên cần xem xét cho chị A ly hôn là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Xét yêu cầu xin được tiếp tục nuôi hai con chung của chị A, Hội đồng xét xử xét thấy hiện hai cháu tên Võ Đình C, sinh ngày 30/5/2008 và Võ Thị Anh D, sinh ngày 15/4/2011 đang sống với chị A, chị A yêu cầu tiếp tục được nuôi, anh B không có ý kiến phản đối nên cần giữ ổn dịnh cho hai cháu về nơi ở, về mặt tâm lý nên giao cho chị A tiếp tục nuôi con chung. Chị A có yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng/01 con/tháng, hai con 2.000.000 đồng/tháng là hợp lý và phù hợp qui định pháp luật nên chấp nhận yêu cầu này của chị A, buộc anh B phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu.

Về nợ chung: Không có.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Hồ Thị A phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định, anh B phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát về giải quyết vụ án có căn cứ phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự ;

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị A đối với anh Võ Thanh B.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị A được ly hôn với anh Võ Thanh B;

1.2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Võ Đình C, sinh ngày 30/5/2008 và Võ Thị Anh D, sinh ngày 15/4/2011 cho chị Hồ Thị A tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng;

Anh Võ Thanh B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng/hai con cho đến khi hai cháu tròn 18 tuổi, lao động được.

Thời gian cấp dưỡng ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Anh B có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền ngăn cản. Anh B không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh B xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trường hợp anh B chậm trả số tiền cấp dưỡng thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được qui định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; Nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo qui định khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;

1.3. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu;

1.4. Về nợ chung: Không có.

2. Về án phí: Chị Hồ Thị A phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân sơ thẩm. Chị A đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0004872 ngày 05/5/2021 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Chợ Gạo nên xem như nộp xong án phí. Anh B phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Quyền kháng cáo: Chị A và anh B có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án họp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ