vanban.org

Bản án 35/2022/DS-ST — Tranh chấp quyền sử dụng đất

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu kh i ki n của bà Đỗ Thị Như N và người kế thừa quyền, nghĩa v tố t ng của bà Lao Thị Hội H là bà Đỗ Thị Như N và bà Đỗ Thị Hoàng U.

Buộc ông Ngô Thanh L và bà Lê Thị G có nghĩa v trả l i cho bà Đỗ Thị Như N, bà Đỗ Thị Hoàng U phần đất có di n tích 13,2m2 thuộc th a đất 184 - 2, có di n tích 3,9m2 và 184 - 4, có di n tích 9,3m2 cùng tờ bản đồ số 13, đất tọa l c t i ấp A, xã A, huy n C, tỉnh Bến Tre. Đất có tứ cận như sau: *Th a 1… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Lao Thị H - Ngô Thanh L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kh i ki n của bà Đỗ Thị Như N và người kế thừa quyền, nghĩa v tố t ng của bà Lao Thị Hội H là bà Đỗ Thị Như N và bà Đỗ Thị Hoàng U.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố t ng dân sự; Điều 166 Luật Đất đai; Điều 202 Luật Đất đai
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

T NH B N T E
Bản án số: 35/2022/DS-ST
Ngày: 13/6/2022
V/v: “Tranh chấp quyền sử
dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C - TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đào Chí Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trẩn Trọng Vũ.

Ông Nguyễn Thanh Vân.

- Th ký phiên tòa: Ông Đoàn Ngọc Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huy n C, tỉnh Bến Tre.

- Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Huỳnh Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2022 t i tr s Tòa án nhân dân huy n C, tỉnh Bến Tre t sơ thẩm công khai v án dân sự th lý số 157/2021/TLST - DS ngày 18 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa v án ra t số 28/2022/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 4 năm 2022 giữa:

1. Nguyên đơn:

1.1.Bà Lao Thị H, sinh năm 1939.

Địa chỉ: ấp A, xã A, huy n C, tỉnh Bến Tre (Chết ngày 19/6/2020)

1.2.Bà Đỗ Thị Như N, sinh năm 1965.

Địa chỉ: số 25 đường Nguyễn An K, phường 13, Quận 5, Thành Phố Hồ Chí Minh.

Chổ hi n nay: ấp A, xã A, huy n C, tỉnh Bến Tre.

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng bà Hội:

Bà Bà Đỗ Thị Như N, sinh năm 1965.

Địa chỉ: số 25 đường Nguyễn An K, phường 13, Quận 5, Thành Phố Hồ Chí Minh (Con bà H).

Bà Đỗ Thị Hoàng U, sinh năm 1961.

Địa chỉ: 15/1, khu phố 4, phường 10, Thành phố M, tỉnh Tiền Giang

(Tịnh xá Ngọc L – Thành phố M, tỉnh Tiền Giang - Con bà H).

Người đai di n theo ủy quyền của bà Đỗ Thị Hoàng U:

Bà Đỗ Thị Như N, sinh năm 1965.

Địa chỉ: số 25 đường Nguyễn An K, phường 13, Quận 5, Thành Phố Hồ Chí Minh.

Chổ hi n nay: ấp A, xã A, huy n C, tỉnh Bến Tre.

Theo văn bản ủy quyền ngày 18/5/2022.

2.Bị đơn.

2.1.Ông Ngô Thanh L, sinh năm 1964.

2.2. Bà Lê Thị G, sinh năm 1965.

Cùng địa chỉ: ấp A, xã A, huy n C, tỉnh Bến Tre.

3.Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Ngô Thanh M, sinh năm 1959.

Địa chỉ: ấp A, xã A, huy n C, tỉnh Bến Tre.

Tại phiên tòa sơ thẩm bà N, ông L, bà G có mặt; bà U, bà M vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Đỗ Thị Như N đồng thời là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Lao Thị H có lời trình bày:

Phần đất tranh chấp thuộc th a đất 184, tờ bản đồ 02, tọa l c t i ấp A, xã A, huy n C, tỉnh Bến Tre do hộ bà Lao Thị H đứng tên trong gấy chứng nhận quyền s d ng đất. Nguồn gốc đất là của bà H quản lý trước đây do bà H mua của ông Võ Văn H và ông B (Chồng bà Đỗ Thị T), bà không nhớ thời gian mua nhưng bà H mua đất của ông H trước sau đó mới mua đất của ông B. Một phần đất của hộ bà H nằm giữa đất của ông Ngô Thanh L, bà Lê Thị G thuộc th a đất số 190, tờ bản đồ 13 và đất của Nguyễn Thị B ch Y thuộc th a 466, tờ bản đồ 13 cùng tọa l c t i ấp A, xã A, huy n C, tỉnh Bến Tre. Giáp ranh đất bà của bà H c nh N là đất của ông L và bà G có hai tr đá làm ranh đầu và cuối đất từ trước đến nay không có gì thay đổi và là một đường thẳng có hai điểm đầu và điểm cuối. Tr ranh này đã có từ trước thời của cha, mẹ bà, những người trước đó đã cặm ranh, bà N không cặm ranh và ông L cũng không cặm ranh. Nhưng nay l i có thêm hai tr đá ông L xác nhận 01 tr do phía ông cặm là tr cặp hông nhà bà Ngô Thị Thanh M nằm khoảng giữa tr đầu và tr cuối, còn một tr cặp ranh đất phía sau là do anh Hồ Hoàng P cặm, anh P là người mua đất của ông L và bà G nhưng không thông qua bà H đã làm sai l ch bản vẽ từ 02 tr ranh giờ thành 04 tr ranh l ch qua phần đất hộ bà H. Giữa đất của bà H và ông L là con mương làm ranh giới. Đến năm 2016, bà Ngô Thanh M là chị của ông Ngô Thanh L tiến hành cất nhà tường trên đất này. Khi bà H phát hi n bà M xây nhà lấn qua đất của bà H, bà H có ý kiến nhưng bà M cho rằng bà M không biết nếu cần thì gặp ông L. Ông L ác định ranh đất là t i vị trí anh P cặm ranh. Theo bà N, khi bà M cất nhà lấn qua đất bà H nên từ tr ranh đầu tiên giáp đường đi đến tr ranh phía sau nhà bà M là 01 hình tam giác, không còn là đường thẳng như trước đây nữa nên mới cặm thêm tr ranh dưới đìa mới t o thành đường thẳng.

Bà đề nghị Tòa án giữ nguyên kết quả đo đ c ngày 19/11/2018 do hi n tr ng đất tranh chấp không có gì thay đổi và kết quả định giá trước đây để giải quyết l i v án.

Bà N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông L, bà G có nghĩa v liên đới trả cho nguyên đơn một phần đất có di n tích 13,2m2 thuộc th a đất 184 - 2 và 184 - 4, tờ bản đồ số 13, đất tọa l c t i ấp A, xã A, huy n C, tỉnh Bến Tre, bà đồng ý nhận đất phần đất trống này.

Đối với phần đất có di n tích 14,5m2 thuộc th a đất 184 - 3, tờ bản đồ số 13, đất tọa l c t i ấp A, xã A, huy n C, tỉnh Bến Tre, bà đồng ý nhận giá trị theo như nội dung bản án giám đốc thẩm số 82/2021/DS-GĐT ngày 17/3/2021 của Tòa án nhân dân cấp cao t i Thành Phố Hồ Chí Minh nhưng giá định giá trước đây là quá thấp, bà yêu cầu bị đơn phải trả theo giá 3000.000đồng/m2 mới phù hợp với giá thị trường. Giá đất này là do bà tham khảo giá thị trường khu vực tranh chấp để đưa ra chứ không phải giá đo cơ quan, tổ chức chuyên về định giá cung cấp cho bà để bà đưa ra.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Ngô Thanh L có lời trình bày:

Phần đất ông quản lý s d ng thuộc th a đất 190, tờ bản đồ 13, đất tọa l c t i ấp A, xã A, huy n C, tỉnh Bến Tre do ông và vợ Lê Thị G cùng đứng tên. Nguồn gốc đất do cha ông cho vợ chồng ông từ năm 1982. Ông L s d ng đất trước khi bà H mua đất của ông B và nhập vào phần đất của bà H thành th a 184 như hi n nay. Giữa hai phần đất ông và bà H có tr ranh từ điểm đầu đến điểm cuối không có sự thay đổi nào và có con mương làm ranh tính mỗi bên n a con mương.

Năm 2014, bà M khi cất nhà đã bơm cát lấp con mương này, khi bơm cát bà M có hỏi ý kiến bà H và bà H cũng đồng ý mỗi bên sẽ chịu phân n a chi phí bơm cát nhưng sau khi bơm ong thì bà H đổi ý không chịu như ban đầu, bà M cũng không có yêu cầu gì với bà H.

Cách đây khoảng mười mấy năm, ông L có chuyển nhượng một phần đất cho bác sĩ T, bà H cũng đã có ký hi p thương ranh sau đó bác sĩ T chuyển cho Hồ Hoàng P. Hi n nay trên phần đất tranh chấp có căn nhà của bà M, sau nhà có một tr ranh bằng i măng trồng dưới đìa nhưng nhưng không phải là tr ranh, ông cũng không biết tr ranh nay do ai trồng, ông chỉ có trồng tr ranh cặp sát nhà bà M để tr ranh thẳng hàng giữa điểm đầu và điểm cuối.

Nay ông đề nghị Tòa án giữ nguyên kết quả đo đ c ngày 19/11/2018 do hi n tr ng đất tranh chấp không có gì thay đổi và kết quả định giá trước đây để giải quyết l i v án.

V án đến nay đã qua nhiều cấp xét x , ông cũng biết rõ đúng hay sai vì vậy ông đồng ý cùng bà G có nghĩa v trả cho nguyên đơn một phần đất trống có di n tích 13,2m2 thuộc th a đất 184 - 2 và 184 - 4, tờ bản đồ số 13, đất tọa l c t i ấp A, xã A, huy n C, tỉnh Bến Tre. Đối với phần đất có di n tích 14,5m2 thuộc th a đất 184 - 3, tờ bản đồ số 13, đất tọa l c t i ấp A, xã A, huy n C, tỉnh Bến Tre do trên đất có nhà không thể di dời, ông đồng ý trả giá trị theo giá 3000.000đồng/m2 theo yêu cầu của bà N.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn bà Lê Thị G có lời trình bày:

Bà thống nhất với lời trình bày của chồng bà là ông Ngô Thanh L.

Quá trình giải quyết vụ án người có quyền, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thanh M có lời trình bày:

Phần đất bà H, bà N tranh chấp với ông L thuộc th a đất số 184, tờ bản đồ 02, tọa l c t i ấp A, xã A, huy n C, tỉnh Bến Tre. Trên phần đât tranh chấp có một phần căn nhà của bà Ngô Thanh M. Theo bà M, năm 2012, bà ây dựng căn nhà hoàn toàn trên đất của ông L, bà G chứ không có lấn đất của bà H, bà N. Trước khi bà M xây nhà thì phần đất hi n nay có căn nhà của bà là một phần con mương ranh giữa bà H và ông L và một phần đất vườn trồng cây, bà H đã cặm ranh trước đó. Trước khi chuẩn bị cất nhà, bà M cũng có hỏi ý kiến bà H bơm cát mương ranh, bà H cũng đồng ý nếu bơm cát sau này mỗi bên sẽ chịu phân nữa chi phí nhưng sau đó bà H không chịu bất kỳ chi phí nào và bà M cũng đồng ý chịu hết chi phí. Bà không lấn đất bà H nên không đồng ý với yêu cầu của bà H.

Tại tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm như sau:

- Về tố tụng: Người tiến hành tố t ng tuân thủ đúng quy định pháp luật. Người tham gia tố t ng chấp hành đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng t chấp nhận yêu cầu kh i ki n của bà Đỗ Thị Như N, bà Đỗ Thị Hoàng U, ghi nhận sự thỏa thuận giữa bà N với ông L và bà G, buộc ông Ngô Thanh L và bà Lê Thị G có nghĩa v trả l i cho bà Đỗ Thị Như N và bà Đỗ Thị Hoàng U một phần đất có di n tích 13,2m2 thuộc th a đất 184 - 2 và 184 - 4, tờ bản đồ số 13, đất tọa l c t i ấp A, xã A, huy n C, tỉnh Bến Tre; đối với phần đất có di n tích 14,5m2 thuộc th a đất 184 - 3, tờ bản đồ số 13, đất tọa l c t i ấp A, xã A, huy n C, tỉnh Bến Tre trên đất có căn nhà của bà Ngô Thanh M thì đề nghị Hội đồng xét x buộc ông L, bà G trả giá trị theo như nội dung bản án giám đốc thẩm số 82/2021/DS - GĐT ngày 17/3/2021 của Tòa án nhân dân cấp cao t i Thành Phố Hồ Chí Minh theo giá 3000.000đồng/m2 như thỏa thuận về giá của các bên t i phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự, căn cứ kết quả tranh tụng cũng như quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

T i phiên tòa sơ thẩm bà Đỗ Thị Hoàng U vắng mặt nhưng có ủy quyền hợp l cho bà Đỗ Thị Như N tham gia tố t ng vì vậy Hội đồng t căn cứ vào khoản 2 Điều 228 Bộ luật tố t ng dân sự 2015 để t vắng mặt các đương sự là phù hợp.

Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan Bà Ngô Thanh M in vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án t vắng mặt vì vậy vi c Hội đồng t tiến hành t vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa v liên quan là phù hợp quy định t i khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố t ng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

X t yêu cầu kh i ki n của bà Đỗ Thị Như N, bà Đỗ Thị Hoàng U.

. Về nguồn gốc đất tranh chấp, vị trí ranh đất giữa bà H với ông L và bà G:

Theo bà N trình bày, phần đất tranh chấp thuộc th a đất số 184, tờ bản đồ 02, tọa l c t i ấp A, xã A, huy n C, tỉnh Bến Tre do hộ bà Lao Thị H đứng tên giấy chứng nhận quyền s d ng đất do bà H mua của ông Võ Văn H và ông B. Từ khi nhận chuyển nhượng đến nay giữa bà H, ông L, bà G không có xảy ra tranh chấp quyền s d ng đất. Giáp ranh với đất bà H c nh phía Nam là đất của ông L có hai tr đá làm ranh đầu đất (điểm G) và cuối đất (điểm F của họa đồ hi n tr ng s d ng đất) từ trước đến nay không có thay đổi và là một đường thẳng. Tr ranh này đã có từ trước vào thời cha mẹ bà và những người s d ng đất trước đó, còn ông L, bà G không có cặm ranh. Đến năm 2016, bà Ngô Thanh M là chị ông Ngô Thanh L ất căn nhà tường ngay ranh đất giữa bà H với ông L, bà G và lấn qua đất của bà H. Ông L ác định ranh đất t i vị trí anh Hồ Hoàng P cặm cọc (là tr ranh nằm dưới đìa do mới cắm sau này bà N không biết nên không đồng ý). Từ tr ranh đầu tiên giáp đường đi đến tr ranh phía sau nhà bà M là một hình tam giác, không còn là đường thẳng như trước đây nữa nên mới cặm thêm một tr ranh dưới đìa mới t o thành đường thẳng làm sai l ch bản vẽ (trước đây là hai tr đá, hi n nay là 04 tr ) l ch ranh qua đất bà H.

Theo ông L, bà G trình bày, ông L s d ng đất trước sau đó bà H mới mua đất của ông B. Giữa hai phần đất của ông L, bà H có tr ranh từ điểm đầu (điểm G) đến điểm cuối (điểm E của của họa đồ hi n tr ng s d ng đất) là không có sự thay đổi và có con mương làm ranh mỗi bên s d ng phân n a. Hi n nay trên phần đất hai bên tranh cấp có căn nhà tường của bà M, con mương khi bà M cất đã bơm cát lấp nên không còn như hi n tr ng. Sau nhà bà M có trồng một tr ranh cặp sát nhà của bà M để tr ranh thẳng hàng giữa điểm đầu và điểm cuối. Khi bà T bán đất cho bà H ranh vẫn như vậy và tr ranh đã cặm sẵn. V án đã qua nhiều cấp xét x , ông cũng thấy rõ đúng sai, nay đối với yêu cầu của bà N, bà U ông đồng ý cùng bà G có nghĩa v trả cho nguyên đơn một phần đất trống có di n tích 13,2m2 thuộc th a đất 184 - 2 và 184

- 4, tờ bản đồ số 13, đất tọa l c t i ấp A, xã A, huy n C, tỉnh Bến Tre. Đối với phần đất có di n tích 14,5m2 thuộc th a đất 184 - 3, tờ bản đồ số 13, đất tọa l c t i ấp A, xã A, huy n C, tỉnh Bến Tre do trên đất có nhà không thể di dời, ông đồng ý trả giá trị theo kết quả định giá ngày 05/10/2018 là 3000.000đồng/m2.

. Về di n tích đất theo họa đồ hi n tr ng s d ng đất và tọa độ quốc gia:

Họa đồ hi n tr ng s d ng lập ngày 23/11/2018 đối với th a đất số 184, 190, tờ bản đồ 13, đất tọa l c t i ấp A, xã A, huy n C, tỉnh Bến Tre thể hi n th a 184, tờ bản đồ số 13 có di n tích theo do đ c hi n tr ng là 5.539,9m2, trong đó bao gồm cả th a 184 - 2, di n tích 3,9m2, th a 184 - 3, di n tích 14,5m2 và th a 184 - 4, di n tích 9,3m2, tổng di n tích cả 03 th a là 27,7m2, chênh l ch thiếu so với di n tích đất được cấp giấy chứng nhận là 23,9m2.

Phần còn l i của th a 190, tờ bản đồ 13 là 1.184,4m2. T i họa đồ hi n tr ng lập ngày 23/11/2018 thể hi n phần đất thuộc th a 190 -1, di n tích 1.081,4m2 , th a 190 - 2, di n tích 103m2, tổng 02 th a bằng với di n tích th a 190, tờ bản đồ 13. Căn nhà của bà M ây dựng có di n tích 117,5m2 thuộc các th a 190 - 2, di n tích 103m2 và th a 184 - 3 , di n tích 14,5m2 .

Phần đất tranh chấp được ký hi u trên họa đồ hi n tr ng s d ng là các th a 184 - 2, di n tích 3,9m2, th a 184 - 3, di n tích 14,5m2 và th a 184 - 4, di n tích 9,3m2 nằm hoàn toàn trong th a đất 184, tờ bản đồ 13 của hộ bà H được cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất nên thuộc quyền s d ng đất của hộ bà Hội và quá trình giải quyết l i v án ông L và bà G cũng thừa nhận có lấn đất và đồng ý trả l i.

Từ những phân, tích đánh giá nêu Hội đồng t nhận thấy yêu cầu kh i ki n của bà Đỗ Thị Như N, bà Đỗ Thị Hoàng U là có cơ s nên được Hội đổng t chấp nhận.

Đối với phần đất có di n tích 13,2m2 thuộc th a đất 184 - 2 và 184 - 4, tờ bản đồ số 13, đất tọa l c t i ấp A, xã A, huy n C, tỉnh Bến Tre là phần đất trống, ông L và bà G tự nguy n trả cho bà N, bà U vì vậy được Hội đồng xét x ghi nhận và đồng thời cần ác định ranh giới đất giữa hộ bà Lao Thị H với ông Ngô Thanh L và bà Lê Thị G là các đo n thẳng nối từ điểm G, điểm H, điểm E, điểm F và điểm D.

Đối với phần đất có di n tích 14,5m2 thuộc th a đất 184 - 3, tờ bản đồ số 13, đất tọa l c t i ấp A, xã A, huy n C, tỉnh Bến Tre do trên đất có căn nhà ây dựng kiên cố của bà Ngô Thanh M xây dựng kiên cố nếu di dời nhà trả đất phải đập phá phần nhà đã ây dựng hoàn thi n làm ảnh hư ng đến kết cấu chung của toàn bộ ngôi nhà.Theo biên bản định giá ngày 05/10/2018 ác định giá trị ngôi nhà là 253.540.000đồng còn giá trị quyền s d ng đất là 14.500.000đồng như vậy thi t h i của vi t tháo dỡ căn nhà là lớn hơn giá trị quyền s d ng đất như vậy và bà M cất nhà trên đất là theo sự chỉ ranh của ông L, bà G vì vậy Hội đồng xét x buộc ông L, bà G trả giá trị là phù hợp.

Về giá trị đất phải trả, trong quá trình giải quyết v án bà N yêu cầu trả theo giá 3000.000đồng/m2 tuy nhiên đây là giá do bà N tự đưa ra không phải là giá do Hội đồng định hoặc giá do cơ quan chuyên môn về giá đưa ra. Xét thấy, Tòa án cũng đã ra thông báo cho bà N làm đơn yêu cầu Tòa án ra quyết định thành lập Hội đồng định giá và nộp t m ứng chi phí định giá hoặc cung cấp giá của cơ quan chuyên môn nhưng bà N không thực hi n; phía ông L và bà G cũng không yêu cầu định giá l i tài sản tranh chấp tuy nhiên ông L và bà G tự nguy n đồng ý trả giá trị 3000.000đồng/m2 theo như yêu cầu của bà N và giá này gấp ba lần số với với giá đã định giá vào ngày 05/10/2018 vì vậy Hội đồng xét x ghi nhận sự thỏa thuận về giá đất giữa hai bên và buộc ông L, bà N có nghĩa v trả giá trị với giá 3000.000đồng/m2, tính thành tiền là 43.500.000đồng.

Phần đất có di n tích 14,5m2 thuộc th a đất 184 - 3, tờ bản đồ số 13 hi n đã được S Tài nguyên và môi trường tỉnh Bến Tre đã cấp cho hộ bà Lao Thị H vì vậy Hội đồng xét x cần kiến nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh giấy chứng nhận quyền s d ng đất số BL 209820 cấp ngày 17/02/2017 đã cấp cho hộ bà H để cấp l i cho ông Ngô Thanh L và bà Lê Thị G cho phù hợp với phần Quyết định của bản án.

Vị đ i di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n C, tỉnh Bến Tre phát biểu quan điểm đề nghị Hội đồng t ghi nhận sự thỏa thuận của bà Đỗ Thị Như N, bà Đỗ Thị Hoàng U với ông Ngô Thanh L và bà Lê Thị G để chấp nhận yêu cầu kh i ki n của bà Đỗ Thị Như N, bà Đỗ Thị Hoàng U và là phù hợp với vi c đánh giá chứng cứ và nhận định của Hội đồng t vì vậy được Hội đồng t chấp nhận.

Về chi phí tố t ng: Chi phí xem xét,thẩm định t i chổ, chi phí định giá, chi phí trích l c hồ sơ cấp đất là 3.496.000đồng, quá trình giải quyết v án bà H, bà N đã nộp t m ứng số tiền này, t i phiên tòa ông L, bà G cũng tự nguy n chịu số tiền này vì vậy Hội đồng t cần buộc ông L và bà G có nghĩa v trả l i cho bà N và bà U.

Về án phí:

Do yêu cầu kh i ki n của bà H, bà N được chấp nhận vì vậy bà Nga và người kế thừa quyền, nghĩa v tố t ng của bà H không có nghĩa v chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Lê Thanh L và bà Lê Thị G tự nguy n chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ng ch đối với vi c số tiền phải trả giá trị đất là 43.500.000đồng x 5% = 2.175.000đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền 1.385.000đồng theo biên l i thu tiền số 0002332 ngày 27/12/2019, ông L và bà G có nghĩa v nộp tiếp số tiền 790.000đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 5, 166, 202 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2005; khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92, khoản 1, khoản 2 Điều 228 Bộ luật Tố t ng dân sự năm 2015 và Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s d ng án phí và l phí Tòa án. C thể tuyên:

Chấp nhận yêu cầu kh i ki n của bà Đỗ Thị Như N và người kế thừa quyền, nghĩa v tố t ng của bà Lao Thị Hội H là bà Đỗ Thị Như N và bà Đỗ Thị Hoàng U.

Buộc ông Ngô Thanh L và bà Lê Thị G có nghĩa v trả l i cho bà Đỗ Thị Như N, bà Đỗ Thị Hoàng U phần đất có di n tích 13,2m2 thuộc th a đất 184 - 2, có di n tích 3,9m2 và 184 - 4, có di n tích 9,3m2 cùng tờ bản đồ số 13, đất tọa l c t i ấp A, xã A, huy n C, tỉnh Bến Tre. Đất có tứ cận như sau:

*Th a 184 – 4:

- Hướng Bắc giáp đất của bà Lao Thị H;

- Hướng Nam giáp đất của bà Lao Thị H;

- Hướng Đông giáp đường nông thôn.

*Th a 184 – 2:

- Hướng Bắc giáp đất của bà Lao Thị H;

- Hướng Nam giáp đất bà Lao Thị H;

- Hướng Đông giáp th a 184-3.

Buộc ông Ngô Thanh L và bà Lê Thị G có nghĩa v liên đới trả giá trị phần đất có di n tích 14,5m2 thuộc th a đất 184 - 3, tờ bản đồ số 13, đất tọa l c t i ấp A, xã A, huy n C, tỉnh Bến Tre cho bà Đỗ Thị Như N và bà Đỗ Thị Hoàng U số tiền 43.500.000đồng (Bốn mươi ba tri u năm trăm nghìn đồng).

Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Ông Ngô Thanh L và bà Lê Thị G được quyền s d ng phần đất có di n tích 14,5m2 thuộc th a đất 184 - 3, tờ bản đồ số 13, đất tọa l c t i ấp A, xã A, huy n C, tỉnh Bến Tre do hộ bà Lao Thị H đứng tên quyền s d ng đất. Đất có tứ cận như sau:

- Hướng Bắc giáp đất của bà Lao Thị H;

- Hướng nam giáp đất của ông Ngô Thanh L và bà Lê Thị G;

- Hướng Đông giáp đường nông thôn;

- Hướng Tây giáp đất bà Lao Thị H.

Xác định ranh giới đất giữa hộ bà Lao Thị H với ông Ngô Thanh L và bà Lê Thị G là các đo n thẳng nối từ điểm G, điểm H, điểm E, điểm F và điểm D.

(Có kết quả đo đạc thửa đất kèm theo bản án và là một bộ phận không thể tách rời của bản án).

Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh giấy chứng nhận quyền s d ng đất số BL 209820 cấp ngày 17/02/2017 của S Tài nguyên và môi trường tỉnh Bến Tre đã cấp cho hộ bà Lao Thị H để cấp l i cho ông Ngô Thanh L và bà Lê Thị G cho phù hợp với phần Quyết định của bản án.

Về án phí:

Ông Lê Thanh L và bà Lê Thị G tự nguy n chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ng ch số tiền 2.175.000đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền 1.385.000đồng theo biên l i thu tiền số 0002332 ngày 27/12/2019, ông L và bà G có nghĩa v nộp tiếp số tiền 790.000đồng (Bảy trăm chín mươi nghìn đồng) và phải có nghĩa v nộp đủ số tiền này.

Về chi phí tố t ng:

Buộc ông Lê Thanh L và bà Lê Thị G phải có nghĩa v trả l i cho bà bà Đỗ Thị Như N và bà Đỗ Thị Hoàng U số tiền 3.496.000đồng (Ba tri u bốn trăm chín mươi sáu nghìn đồng).

Về quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên t phúc thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong h n 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đ t hợp l để yêu cầu Tòa án cấp trên t phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ