vanban.org

Bản án 35/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 12/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lưu N Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lưu N Q 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/12/2020. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lưu N Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂY NINH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2021/HSST
Ngày 12 tháng 3 năm 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Dƣơng Văn Quản.

2/ Bà Lƣu Thị Kiên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2021/HSST ngày 08 tháng 02 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: LƢU N Q, sinh ngày 13/10/1984 tại tỉnh Tây Ninh. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Nhà số NM, đường Nguyễn Đ C, Khu phố H, Phường H, thành phố TN, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú hiện nay: Nhà số HM, Hẻm SC, đường Cách M T T, Khu phố H, Phường B, thành phố T N, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nữ; con ông Lưu G H, sinh năm 1954 và bà Ngô T Đ, sinh năm 1962; chưa có chồng, con; tiền án: không có; tiền sự: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số: 55/QĐ-TA ngày 22/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, thời gian 12 tháng, chấp hành xong ngày 29/02/2020, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 16/12/2020, chuyển sang tạm giam từ ngày 22/12/2020 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lưu N Q là đối tượng nghiện ma túy nên thường mua ma túy của nhiều người (không rõ họ tên, địa chỉ) để sử dụng. Ngày 01/8/2020 Q đến thuê phòng trọ số BM nhà cho thuê tháng L N, Số HM, Hẻm SC, đường Cách M T T, Khu phố H, Phường B, thành phố T N, tỉnh Tây Ninh để sinh sống. Khoảng 10 giờ ngày 16/12/2020 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Q đón xe ôm đến khu vực đường Nguyễn T thuộc Phường B, thành phố T N gặp một người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) mua một bịch ma túy với số tiền 2.000.000 đồng đem về phòng trọ cất giữ. Sau đó, Q lấy bịch ma túy vừa mua chia thành 05 bịch ma túy nhỏ và để lại một ít ma túy bên ngoài để sử dụng. Q lấy 04 bịch ma túy nhỏ bỏ vào 01 bịch nylon loại kẹp đầu lớn rồi bỏ cùng với bịch ma túy còn lại vào hộp giấy bỏ vào túi xách màu đen để trên bàn. Q lấy một ít ma túy bên ngoài sử dụng. Khoảng 15 phút sau, Tống Nguyễn C T, sinh năm 1990, ngụ ấp Sân L, xã H Đ, huyện C T, tỉnh Tây Ninh đến, Q lấy một ít ma túy bên ngoài cùng với bộ dụng cụ sử dụng ma túy cho C T sử dụng, sử dụng xong C T ngồi chơi tại phòng. Khoảng 30 phút sau, Tống Q T, sinh năm 1990, ngụ ấp Bình L, xã T B, huyện C T, tỉnh Tây Ninh đến, QT hỏi xin Q ma túy sử dụng, Q lấy số ma túy còn lại bên ngoài cùng với bộ dụng cụ sử dụng ma túy cho Q T sử dụng, sử dụng xong QT ngồi chơi tại phòng cùng với Q và CT. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày lực lượng Công an Phường B, thành phố T N kiểm tra phát hiện Q có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên lập biên bản bắt quả tang, thu giữ một bịch nylon kẹp đầu chứa chất tinh thể rắn trong suốt và một bịch nylon lớn kẹp đầu bên trong có 04 bịch nylon nhỏ đều chứa tinh thể rắn trong suốt thu trong hộp giấy để trong túi xách màu đen trên bàn, trong phòng trọ của Lưu N Q được niêm phong theo quy định.

Tại Kết luận giám định số: 1971/KL-KTHS ngày 21/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Mẫu chất tinh thể rắn trong suốt bên trong một bịch nylon kẹp đầu và 04 bịch nylon nhỏ kẹp đầu (ký hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamin, khối lượng 2,8276 gam.

Đối với Tống N C T và Tống Q T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đã bị Công an Phường B, thành phố T N xử lý vi phạm hành chính theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Bản cáo trạng số: 21/CT-VKS.TPTN ngày 08 tháng 02 năm 2021 Viện kiểm sát nhân dân thành phố T N, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Lưu N Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T N, tỉnh Tây Ninh trong phần tranh luận đã giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Lưu N Q về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lưu N Q mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo vì không có tài sản thi hành.

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy chất ma túy theo quy định của pháp luật.

* Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:

Bị cáo Lưu N Q là người nghiện ma túy, để có ma túy sử dụng nên bị cáo đã có hành vi mua ma túy, loại Methamphetamin với số tiền 2.000.000 đồng để sử dụng nhưng chưa sử dụng hết, còn lại 2,8276 gam thì bị bắt. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi theo luật định, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố T N, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Qu phạm tội “Tàng trữ trái phép chất may túy” là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến độc quyền quản lý chất gây nghiện của nhà nước. Bị cáo biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có ma túy sử dụng nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Do đó, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, trừng trị, nhằm giáo dục ý thức pháp luật để sau khi chấp hành xong hình phạt tù bị cáo sẽ trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

Khi quyết định hình phạt có xem xét đến tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng: Không có. Tuy nhiên bị cáo có một tiền sự chưa được xóa, nên cũng cần xem xét khi lượng hình.

- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Do bị cáo Quyên không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung.

Xử lý vật chứng: 01 (một) bì thư niêm phong ghi vụ số: 1971/KL-KTHS có dấu đỏ hình tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh và chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, trợ lý Phan Quốc Việt, bên trong chứa chất ma túy loại Methamphetamine, trọng lượng sau giám định còn lại 2,8276 gam là vật nhà nước cấm lưu hành; một chai nhựa nắp màu đỏ và một chai nhựa nắp màu đen, trên nắp mỗi chai đều có gắn 01 tẩu thủy tinh và một ống hút nhựa; một túi xách màu đen; một hộp giấy không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lưu N Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Lưu N Q 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/12/2020.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) bì thư niêm phong ghi vụ số: 1971/KL-KTHS có dấu đỏ hình tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh và chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, trợ lý Phan Quốc Việt;

- 01 (một) chai nhựa nắp màu đỏ, trên nắp có gắn 01 tẩu thủy tinh và 01 ống hút nhựa;

- 01 (một) chai nhựa nắp màu đen, trên nắp có gắn 01 tẩu thủy tinh và 01 ống hút nhựa;

- 01 (một) túi xách màu đen và 01 (một) hộp giấy.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Lưu N Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án hình sự sơ thẩm xử công khai, báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ