vanban.org

Bản án 35/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 28/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn H 02 năm 06 tháng tù, về tội: Mua bán trái phép chất ma túy và 03 năm tù, về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là: 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm g… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 25…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN YÊN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2021/HSST
Ngày 28 tháng 6 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

-----------------

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

* Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ánh Dương

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Quốc Sửu.

2. Ông Trần Anh Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Nam - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện T .

- Đại diện VKSND huyện T tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ – Kiểm sát viên .

Trong ngày 28 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 40/2021/HSST, ngày 11 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2021/HSST- QĐ ngày 15 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:

* Họ và tên: Đỗ Văn H- Sinh ngày:13 tháng 10 năm 1973;

- Tên gọi khác: Không;

Giới tính: Nam;

- Nơi sinh và cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn N, huyện T T, tỉnh B

- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

- Nghề nghiệp: Tự do;

Trình độ học vấn: 7/12;

- Họ tên cha: Đỗ Văn L (đã chết);

- Họ tên mẹ: Nguyễn Thị B (đã chết);

- Vợ: Đinh Thị B - sinh năm 1975 (đã ly hôn)

- Bị cáo có 1 người con, sinh năm 1995.

- Gia đình bị cáo có năm anh em, bị cáo là con thứ hai.

- Tiền án, tiền sự: Không có.

- Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/02/2021, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T T. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Vi Văn K- sinh năm 1988(Vắng mặt)

- Chị Ngô Thị H – sinh năm 1987(Vắng mặt)

Đều trú tại: Thôn S, xã T, huyện T T, tỉnh B.

* Người chứng kiến:

- Anh Hoàng Hải M - sinh năm 1994(Vắng mặt)

Trú tại: Thôn C, xã C, huyện T T, tỉnh B.

- Anh Nguyễn Xuân C - sinh năm 1976(Vắng mặt)

Trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T T, tỉnh B.

- Anh Hoàng Ngọc C - sinh năm 1984(Vắng mặt)

Trú tại: Thôn N, xã C, huyện T T, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 18/02/2021, Đỗ Văn H- sinh năm 1973 trú tại Tổ dân phố C, thị trấn N, huyện T T, tỉnh B đang ở nhà thì có một người phụ nữ tên là T (H quen biết T nhưng không biết họ, tên đệm và địa chỉ cụ thể ở đâu) gọi vào số điện thoại 0869.087.446 của H bảo H để cho 300.000 đồng ma túy đá và ngựa mang đến đoạn đường ở Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T T (khu vực gần nhà hoang) và sử dụng cùng T (H hiểu T bảo H bán cho T 300.000 đồng tiền ma túy tổng hợp dạng hồng phiến và dạng đá). H lấy tại túi áo trước ngực bên phải chiếc áo sơ mi màu xanh treo tại tường trong bếp nhà H từ trong 01 túi nilon màu hồng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa bên ngoài có chữ A, 01 đoạn ống nhựa màu cam được hàn kín hai đầu bên trong có 01 viên nén hình tròn màu hồng đỏ và chất tinh thể màu trắng và 01 đoạn ống nhựa màu xanh, bên trong có chất tinh thể màu trắng đều là ma túy đút vào túi trong của áo đang mặc và mang đi bán cho T, đồng thời lấy 02 đoạn ống nhựa được hàn kín 2 đầu gồm 01 đoạn màu xanh và một đoạn màu da cam bên trong mỗi đoạn đựng 01 viên nén hình tròn màu hồng đỏ và chất tinh thể màu trắng là ma túy quấn túi nilon hàn kín cầm ở tay để mang đi sử dụng cùng T. Sau đó, tay trái H cầm gói nilon đựng ma túy tay phải H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98H1-222.48 đến gặp T. Khoảng 14 giờ 40 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đường thuộc Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T T, tỉnh B thì Đỗ Văn H bị Cơ quan điều tra Công an huyện T T kiểm tra bắt quả tang H cất giấu ma túy trên người. Do sợ hãi nên H thả gói nilon ma túy xuống mặt đường ngay cạnh chỗ H bị bắt. Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang bao gồm:

+ Thu tại mặt đường tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T T tại vị trí H đứng 01 gói nilon được hàn kín, bên trong đựng 02 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu một đoạn màu xanh, một đoạn màu cam, bên trong mỗi đoạn đựng đều đựng 01 viên nén hình tròn màu hồng đỏ và chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp.

+ Thu giữ tại túi áo ngực trong bên trái H đang mặc 02 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu, trong đó 01 đoạn màu xanh đựng các chất tinh thể màu trắng, 01 đoạn màu cam đựng các chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén hình tròn màu hồng đỏ nghi là ma túy tổng hợp.

Tất cả vật chứng nghi là ma túy được niêm phong trong phong bì có ký hiệu “QT”.

+ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 98H1-222.48

+ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VSmart màu đen số Imei1 356742103129604 thu tại túi quần phía trước bên phải Đỗ Văn H đang mặc.

+ Thu giữ tại túi quần phía sau bên phải của H số tiền 1.361.000 đồng.

Ngày 18/02/2021, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đỗ Văn H kết quả khám xét thu giữ:

Thu tại túi áo ngưc bên phải chiếc áo sơ mi màu xanh treo tại tường phía Đông trong bếp nhà H 01 túi nilon màu hồng một đầu có rãnh khóa nhựa bên ngoài có chữ A, bên trong đựng 06 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu gồm các mầu xanh, vàng, hồng cam, trong đó 03 đoạn ống nhựa bên trong có mỗi đoạn đựng 01 viên nén hình tròn màu hồng đỏ và chất tinh thể màu trắng và 03 đoạn ống nhựa bên trong đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp.

Thu giữ tại giá để đồ ở góc bếp nhà H 02 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa viền màu đỏ trong đó 01 túi nilon bên trong đựng 3 gói giấy bạc đều có mặt ngoài màu vàng mặt trong màu trắng đựng các chất cục bột màu trắng, 01 túi nilon bên trong đựng 15 gói giấy bạc trong đó 14 gói đều có mặt ngoài màu vàng mặt trong màu trắng và 01 gói có mặt ngoài màu trắng bạc mặt trong màu trắng bên trong đều đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy Heroine. Tất cả vật chứng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu "KX".

Qúa trình điều tra H khai số ma túy tổng hợp trong túi áo treo ở bếp là ma túy do Vi Văn K – sinh năm 1988 trú tại Thôn S, xã T, huyện T T, tỉnh B đưa cho để bán và sử dụng dần. Căn cứ lời khai của Đỗ Văn H, ngày 18/02/2021 Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Vi Văn K, kết quả khám xét không thu giữ gì liên quan đến ma túy.

Ngày 18/02/2021, Cơ quan điều tra Công an huyện T T tỉnh Bắc Giang trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang giám định các vật chứng được niêm phong trong phong bì ký hiệu "QT” và vật chứng niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX” có phải là ma túy không? Loại chất ma túy gì? Có khối lượng là bao nhiêu?

Tại kết luận giám định số 325 ngày 23/02/2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

“5.1. Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “QT” được niêm phong gửi giám định:

- Tinh thể màu trắng và 02 viên nén hình tròn màu hồng đỏ đựng trong 02 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu gồm các màu xanh và da cam, được gói trong 01 (một) gói nilon được hàn kín là ma túy, có tổng khối lượng 0,399 gam, loại Methamphetamine.

- Thể màu trắng và 01 viên nén hình tròn màu hồng đỏ đựng trong 01 đoạn ống nhựa màu da cam được hàn kín hai đầu và tinh thể màu trắng đựng trong 01 đoạn ống nhựa màu xanh được hàn kín hai đầu là ma túy, có tổng khối lượng 0.242 gam, loại Methamphetamine.

5.2. Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “KX” được niêm phong gửi giám định:

- Tinh thể màu trắng và 03 viên nén hình trong màu hồng đỏ đựng trong 06 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu gồm các màu xanh, vàng, hồng, cam được đựng trong 01 túi nilon màu hồng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa bên ngoài có chữ “A” (cách thức đóng gói tinh thể màu trắng và viên nén màu hồng đỏ được mô tả chi tiết tại phần II. Đối tượng giám định; mục 1.2. Mẫu cần giám định) là ma túy, có khối lượng 0.867 gam loại Methamphetamine.

- Chất cục bột màu trắng đựng trong 03 gói giấy bạc đều có mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng được đựng trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa viên màu đỏ là ma túy, có tổng khối lượng 0,180 gam loại Heroine.

- Chất cục bột màu trắng đựng trong 15 (mười lăm) gói giấy bạc, trong đó có: 14 gói đều có mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng và 01 gói mặt ngoài màu trắng bạc, mặt trong màu trắng được đựng trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là ma túy, có tổng khối lượng 0,910 gam, loại Heroine.”

Về nguồn số ma túy Heroine thu giữ tại giá để đồ ở góc bếp nhà H, H khai H mua của một người tên là T (không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) ở khu vực nhà bỏ hoang gần nơi H bị bắt vào một ngày trong tháng 02 với giá 400.000 đồng mục đích để H sử dụng dần.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ tại túi áo ngực bên phải chiếc áo sơ mi màu xanh treo tại tường phía đông của bếp nhà H và số ma túy thu giữ khi bắt quả tang ban đầu H khai nhận là do K đưa cho H để bán và sử dụng. Tuy nhiên trong quá trình điều tra H thay đổi lời khai khẳng định số ma túy trên H mua của một người đàn ông không biết tên tuổi địa chỉ ở đâu ở đầu ngõ nhà H vào một ngày trong tháng 2/2021 mang về cất vào túi áo treo trong bếp mục đích để sử dụng dần. Ngày 18/02/2021, T bảo để cho 300.000 đồng tiền ma túy H mới bán 02 đoạn ống nhựa đựng ma túy cho T, số ma túy còn lại H chỉ để sử dụng dần nếu ai hỏi mua cũng không bán.

Quá trình điều tra Đỗ Văn H và Vi Văn K đều khẳng định chiều ngày 17/02/2021, Vi Văn K có đến nhà H sau đó K cho H một ít ma túy tổng hợp dạng đá được gói trong 1 gói giấy, H khai số ma túy này H cất vào trong túi áo ngưc bên phải chiếc áo sơ mi màu xanh treo tại tường bếp. Đến tối ngày 17/02/2021, H đã lấy từ trong túi áo gói ma túy K cho ra sử dụng hết. Ngoài ra K còn khai khi đến nhà H thì K còn bỏ ma túy ra sử dụng.

Về nguồn gốc số ma túy K sử dụng và cho H là K mua của một người đàn ông không biết tên tuổi địa chỉ ở Bắc Ninh với giá 100.000 đồng.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho K do K không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh đối với người đàn ông này.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đỗ Văn H và Vi Văn K, Công an huyện T T đã ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền mỗi người 750.000 đồng

Việc K sử dụng ma túy tại nhà H, H khai nhận không biết chỉ thấy K cho ma túy sử dụng nên không có căn cứ để xử lý Đỗ Văn H về hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với người đàn ông không biết tên tuổi địa chỉ, bán ma túy tổng hợp dạng đáá và dạng hồng phiến cho H. H không biết tên tuổi địa chỉ ở đâu nên Cơ quan điều tra Công an huyện T T không có căn cứ xác minh làm rõ đối với người đàn ông bán ma túy cho H.

Đối với người phụ nữ tên T bán ma túy Heroine cho H và hỏi mua ma túy tổng hợp của H. H không biết họ, tên đệm, tuổi, địa chỉ cụ thể, bản thân H chưa nhìn thấy mặt T bảo giờ. Khi H đến mua ma túy Heroine của T thì T đã xin số điện thoại của H nên ngày 18/2/2021 T đã gọi vào số điện thoại của H để hỏi mua ma túy tổng hợp của H. Do H không lưu số điện thoại của T trong danh bạ nên H không nhớ số điện thoại nào là số của T. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại thị trấn Nhã Nham, huyện T nhưng do ít thông tin nên không thể xác định được người phụ nữ nào tên là T có biểu hiện nghi vấn hoạt động liên quan đến ma túy.

Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với những người đang sử dụng số điện thoại gọi vào số điện thoại 0869.087.446 của H trong khoảng thời gian 14 giờ ngày 18/02/2021 nhưng người liên lạc với H đều là đàn ông và khẳng định không liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy, không quen biết ai tên là T. Do đã tiến hành các hoạt động điều tra nhưng chưa làm rõ được người phụ nữ bán ma túy và mua ma túy của H nên Cơ quan điều tra tách phần tài liệu liên quan đến người phụ nữ tên T ra khỏi hồ sơ vụ án để tiếp tục điều tra xác minh, khi nào có căn cứ xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98H1-222.48 kết quả điều tra xác định chiếc xe mô tô này là của Vi Văn K. Ngày 18/02/2021, K cho H mượn xe nhưng K không biết H đã sử dụng chiếc xe trên để đi bán ma túy. Ngày 18/5/2021, Cơ quan điều tra Công an huyện T T đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh K quản lý, sử dụng.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu VSmart màu đen Imei1 356742103129604 lắp sim số 0869.087.446 kết quả điều tra xác định thuộc sở hữu của Đỗ Văn H, H khai nhận sử dụng để liên lạc trao đổi mua bán ma túy với T ngày 18/02/2021.

Đối với số tiền 1.361.000 đồng là tiền của Đỗ Văn H không liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy.

Bản Cáo trạng số: 38/CT-VKS, ngày 11/6/2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố Đỗ Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đồng thời đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

* Áp dụng khoản 01 khoản 5 Điều 251; điểm i khoản 01 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn H 02 năm 06 tháng đến 02 năm 08 tháng tù, về tội: Mua bán trái phép chất ma túy và 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là: 05 năm đến 05 năm 08 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/02/2021. Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Đỗ Văn H 5.000.000 đồng để sung quỹ nhà nước.

* Áp dụng khoản 1 Điều 47 của BLHS 2015; khoản 2 Điều 106 của BLTTHS 2015:

- Tịch thu tiêu huỷ:

Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “QT”:

+ Mẫu tinh thể màu trắng và mẫu viên nén màu hồng đỏ đựng trong 02 (hai) đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu gồm các màu xanh và da cam, được gói trong 01 (một) gói nilon được hàn kín là ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định 0.371 gam.

+ Mẫu tinh thể màu trắng và mẫu viên nén màu hồng đỏ đựng trong 01 đoạn ống nhựa màu da cam được hàn hai đầu và mẫu tinh thể màu trắng đựng trong 01 đoạn ống nhựa màu xanh được hàn kín hai đầu là ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định 0.219 gam.

Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “KX”:

+ Mẫu tinh thể màu trắng, mẫu viên nén màu hồng đỏ là ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định 0.745 gam và 6 đoạn ống nhựa gồm các màu xanh, vàng, hồng, cam được đựng trong 01 túi nilon màu hồng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa bên ngoài có chữ “A”.

+ Mẫu chất cục bột màu trắng là ma túy, loại Heroine còn lại sau giám định 0.170 gam và 3 mảnh giấy bạc được đựng trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa viền màu đỏ.

+ Mẫu chất cục bột màu trắng là ma túy, loại heroine còn lại sau giám định 0.872 gam và 15 mảnh giấy bạc được đựng trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ.

Hai phong bì được niêm phong lại bằng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang có chữ ký của giám định viên và đại diện Cơ quan trưng cầu.

- Trả lại bị cáo Đỗ Văn H số tiền 1.361.000 đồng là tiền của Đỗ Văn H nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước của bị cáo Đỗ Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu VSmart màu đen Imei1 356742103129604 lắp sim số 0869.087.446.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Đỗ Văn H nói lời sau cùng: Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Khoảng 14 giờ 40 phút ngày 18/02/2021, tại khu vực đoạn đường thuộc Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T T, tỉnh B. Cơ quan điều tra Công an huyện T T bắt quả tang Đỗ Văn H đang có hành vi cất giấu 0.242 gam ma túy Methamphetamine mang đi bán kiếm lời và 0.399 gam ma túy Methamphetamine mang đi sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, Đỗ Văn H còn tàng trữ 0.867 gam ma túy Methamphetamine và 1.09 gam ma túy Heroine tại nhà nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân.

Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Bản tự khai, Bản tường trình, Bản kiểm điểm và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng cùng tang vật chứng là: 0.242 gam ma túy Methamphetamine mang đi bán kiếm lời và 0.399 gam ma túy Methamphetamine mang đi sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, Đỗ Văn H còn tàng trữ 0.867 gam ma túy Methamphetamine và 1.09 gam ma túy Heroine tại nhà nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân và kết quả giám định vật chứng. Như vậy, hành vi trên của bị cáo Đỗ Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 01 Điều 251 của BLHS và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 01 Điều 249 của BLHS và theo tinh thần hướng dẫn tại mục 3 phần II Thông tư liên tịch số: 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của BCA, VKSNDTC, TANDTC, BTP. Bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T và kết luận của Kiểm sát viên truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự công cộng, xâm phạm sự độc quyền quản lý các chất gây nghiện của nhà nước. Vi phạm nghiêm trọng luật phòng chống ma túy. Ma tuý là hiểm hoạ cho đời sống cộng đồng, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác và là nguy cơ lây truyền các bệnh xã hội nguy hiểm như HIV, AIDS. Pháp luật đã nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý. Bị cáo đã tiếp tay cho việc tiêu thụ ma tuý. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo cho việc giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù với thời hạn nhất định để bị cáo có điều kiện tu dưỡng rèn luyện bản thân làm người có ích cho gia đình và xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.

Chỉ cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo khoản 5 Điều 251 của BLHS về tội mua bán trái phép chất ma túy đối với bị cáo Đỗ Văn H là đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:

Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Không có.

Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải. Nên áp dụng tình tiết xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51của BLHS.

Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đưa ra về xử lý vật chứng là phù hợp, có cơ sở chấp nhận. Áp dụng điểm a điểm b điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của BLTTHS:

- Tịch thu tiêu huỷ:

Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “QT”:

+ Mẫu tinh thể màu trắng và mẫu viên nén màu hồng đỏ đựng trong 02 (hai) đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu gồm các màu xanh và da cam, được gói trong 01 (một) gói nilon được hàn kín là ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định 0.371 gam.

+ Mẫu tinh thể màu trắng và mẫu viên nén màu hồng đỏ đựng trong 01 đoạn ống nhựa màu da cam được hàn hai đầu và mẫu tinh thể màu trắng đựng trong 01 đoạn ống nhựa màu xanh được hàn kín hai đầu là ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định 0.219 gam.

Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “KX”:

+ Mẫu tinh thể màu trắng, mẫu viên nén màu hồng đỏ là ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định 0.745 gam và 6 đoạn ống nhựa gồm các màu xanh, vàng, hồng, cam được đựng trong 01 túi nilon màu hồng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa bên ngoài có chữ “A”.

+ Mẫu chất cục bột màu trắng là ma túy, loại Heroine còn lại sau giám định 0.170 gam và 3 mảnh giấy bạc được đựng trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa viền màu đỏ.

+ Mẫu chất cục bột màu trắng là ma túy, loại heroine còn lại sau giám định 0.872 gam và 15 mảnh giấy bạc được đựng trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ.

Hai phong bì được niêm phong lại bằng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang có chữ ký của giám định viên và đại diện Cơ quan trưng cầu.

- Trả lại bị cáo Đỗ Văn H số tiền 1.361.000 đồng là tiền của Đỗ Văn H không liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước của bị cáo Đỗ Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu VSmart màu đen Imei1 356742103129604 lắp sim số 0869.087.446 mà bị cáo H sử dụng để liên lạc trao đổi mua bán ma túy với T ngày 18/02/2021.

Quá trình điều tra Đỗ Văn H và Vi Văn K đều khẳng định chiều ngày 17/02/2021, Vi Văn K có đến nhà H sau đó K cho H một ít ma túy tổng hợp dạng đá được gói trong 1 gói giấy, H khai số ma túy này H cất vào trong túi áo ngực bên phải chiếc áo sơ mi màu xanh treo tại tường bếp. Đến tối ngày 17/02/2021, H đã lấy từ trong túi áo gói ma túy K cho ra sử dụng hết. Ngoài ra K còn khai khi đến nhà H thì K còn bỏ ma túy ra sử dụng.

Về nguồn gốc số ma túy K sử dụng và cho H là K mua của một người đàn ông không biết tên tuổi địa chỉ ở Bắc Ninh với giá 100.000 đồng.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho K do K không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh đối với người đàn ông này.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đỗ Văn H và Vi Văn K, Công an huyện T T đã ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền mỗi người 750.000 đồng là đúng.

Việc K sử dụng ma túy tại nhà H, H khai nhận không biết chỉ thấy K cho ma túy sử dụng nên không có căn cứ để xử lý Đỗ Văn H về hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với người đàn ông không biết tên tuổi địa chỉ, bán ma túy tổng hợp dạng đá và dạng hồng phiến cho H. H không biết tên tuổi địa chỉ ở đâu nên Cơ quan điều tra Công an huyện T T không có căn cứ xác minh làm rõ đối với người đàn ông bán ma túy cho H.

Đối với người phụ nữ tên T bán ma túy Heroine cho H và hỏi mua ma túy tổng hợp của H. H không biết họ, tên đệm, tuổi, địa chỉ cụ thể, bản thân H chưa nhìn thấy mặt T bảo giờ. Khi H đến mua ma túy Heroine của T thì T đã xin số điện thoại của H nên ngày 18/2/2021 T đã gọi vào số điện thoại của H để hỏi mua ma túy tổng hợp của H. Do H không lưu số điện thoại của T trong danh bạ nên H không nhớ số điện thoại nào là số của T. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại thị trấn Nhã Nham, huyện T nhưng do ít thông tin nên không thể xác định được người phụ nữ nào tên là T có biểu hiện nghi vấn hoạt động liên quan đến ma túy.

Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với những người đang sử dụng số điện thoại gọi vào số điện thoại 0869.087.446 của H trong khoảng thời gian 14 giờ ngày 18/02/2021 nhưng người liên lạc với H đều là đàn ông và khẳng định không liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy, không quen biết ai tên là T. Do đã tiến hành các hoạt động điều tra nhưng chưa làm rõ được người phụ nữ bán ma túy và mua ma túy của H nên Cơ quan điều tra tách phần tài liệu liên quan đến người phụ nữ tên T ra khỏi hồ sơ vụ án để tiếp tục điều tra xác minh, khi nào có căn cứ xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98H1-222.48 kết quả điều tra xác định chiếc xe mô tô này là của Vi Văn K. Ngày 18/02/2021, K cho H mượn xe nhưng K không biết H đã sử dụng chiếc xe trên để đi bán ma túy. Ngày 18/5/2021, Cơ quan điều tra Công an huyện T T đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh K quản lý, sử dụng là đúng.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH :

1. Căn cứ: Khoản 01 khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ: Điểm i khoản 01 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

-Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn H 02 năm 06 tháng tù, về tội: Mua bán trái phép chất ma túy và 03 năm tù, về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là: 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/02/2021. Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Đỗ Văn H 5.000.000 đồng để sung quỹ nhà nước.

3. Áp dụng điểm a điểm b điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của BLTTHS:

- Tịch thu tiêu huỷ:

Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “QT”:

+ Mẫu tinh thể màu trắng và mẫu viên nén màu hồng đỏ đựng trong 02 (hai) đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu gồm các màu xanh và da cam, được gói trong 01 (một) gói nilon được hàn kín là ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định 0.371 gam.

+ Mẫu tinh thể màu trắng và mẫu viên nén màu hồng đỏ đựng trong 01 đoạn ống nhựa màu da cam được hàn hai đầu và mẫu tinh thể màu trắng đựng trong 01 đoạn ống nhựa màu xanh được hàn kín hai đầu là ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định 0.219 gam.

Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “KX”:

+ Mẫu tinh thể màu trắng, mẫu viên nén màu hồng đỏ là ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định 0.745 gam và 6 đoạn ống nhựa gồm các màu xanh, vàng, hồng, cam được đựng trong 01 túi nilon màu hồng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa bên ngoài có chữ “A”.

+ Mẫu chất cục bột màu trắng là ma túy, loại Heroine còn lại sau giám định 0.170 gam và 3 mảnh giấy bạc được đựng trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa viền màu đỏ.

+ Mẫu chất cục bột màu trắng là ma túy, loại heroine còn lại sau giám định 0.872 gam và 15 mảnh giấy bạc được đựng trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ.

Hai phong bì được niêm phong lại bằng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang có chữ ký của giám định viên và đại diện Cơ quan trưng cầu.

- Trả lại bị cáo Đỗ Văn H số tiền 1.361.000 đồng là tiền của Đỗ Văn H không liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước của bị cáo Đỗ Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu VSmart màu đen Imei1 356742103129604 lắp sim số 0869.087.446 mà bị cáo H sử dụng để liên lạc trao đổi mua bán ma túy với T ngày 18/02/2021.

(Vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số: 32/QĐ – VKS, ngày 11/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T ).

4. Áp dụng khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Đỗ Văn H phải chịu 200.000đồng án phí HSST.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án .

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiêụ thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ