vanban.org

Bản án 35/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 09/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Văn P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ GR
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2021/HS-ST
Ngày 09- 6- 2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GR, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Nhi.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thành Nhạn

Bà Cao Thị Mỹ Phượng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Hải là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã GR, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã GR, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã GR, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2021/TLST-HS, ngày 07 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2021/QĐXXST-HS, ngày 19 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đoàn Văn P (Tên gọi khác: PK, PX), sinh năm 1982 tại Bạc Liêu; nơi cư trú: Ấp A, xã TP, thị xã GR, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn Đ và bà Danh Thị H; vợ con: Không; anh chị em ruột: 02 người, lớn sinh năm 1978, nhỏ là bị cáo; tiền án: Ngày 16/6/2005 bị Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xử phạt 12 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 13/4/2015 bị Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xử phạt 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/9/2018, chưa xóa án tích; tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2020 đến ngày 21/12/2020 chuyển giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 10 phút ngày 18/12/2020, sau khi nhận được tin báo của quần chúng nhân dân thì lực lượng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy kết hợp với Công an xã TP, thị xã GR tiến hành kiểm tra tại nhà của Trịnh Thiên Đ địa chỉ Ấp A, xã TP, thị xã GR, tỉnh Bạc Liêu thì phát hiện bị cáo Đoàn Văn P và Mai Thị D có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Lực lượng Công an tiến hành kiểm tra và thu giữ trong túi quần jeans phía sau bên phải mà bị cáo P đang mặc có các vật gồm: 01 (một) túi vải màu đỏ có dây kéo, bên ngoài túi có chữ “Lợi Lộc” bên trong có 01 (một) gói nylon màu trắng được nẹp miệng một đầu, có kích thước 5cm x 3,5cm, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn nghi là chất ma túy; 01 (một) gói nylon màu trắng được buộc miệng một đầu bằng dây thun màu trắng, bên trong gói nylon có chứa chất bột màu xanh nghi là chất ma túy; 01 (một) phễu thủy tinh (còn gọi là nỏ) một đầu có hình cầu. Tại hiện trường lực lượng Công an còn phát hiện các tang vật như 01 chai nhựa màu trắng, có nắp màu hồng, trên nắp có khoét hai lổ, một lổ có gắn ống nhựa màu trắng, một lổ gắn ống nhựa màu vàng.

Bị cáo Đoàn Văn P khai nhận số ma túy trên là do người tên H (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) quen biết do chơi game bắn cá cho bị cáo để sử dụng. Qua kiểm tra lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đồng thời niêm phong đồ vật, tài liệu bị thu giữ đúng quy định.

Tại Kết luận giám định số 06/KLGĐ-PC09 ngày 26/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu xác định: Chất rắn màu trắng, dạng tinh thể bên trong 01 (một) gói nylon màu trắng, một đầu có nẹp miệng, kích thước 05cm x 3,5cm là chất ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,53265gam. Chất bột màu xanh bên trong 01 (một) gói nylon màu trắng, một đầu được buộc miệng bằng dây thun màu trắng là chất ma túy, loại Methylenedioxymethamphetamin (MDMA) có khối lượng 2,88830gam. Tổng khối lượng của hai chất ma túy là 3,42095gam.

Bị cáo Đoàn Văn P đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xử phạt 12 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án số 105/2005/HSST ngày 16/6/2005 và 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo bản án số 10/2015/HSST ngày 13/4/2015 và lần phạm tội này là tái phạm, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 22/9/2018. Đến ngày 18/12/2020 bị cáo chưa được xóa án tích thì tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với tổng khối lượng là 3,42095gam và bị bắt quả tang nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Tại Cáo trạng số: 31/CT-VKSGR ngày 05/4/2021, Viện kiểm sát nhân dân thị xã GR đã truy tố bị cáo Đoàn Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã GR vẫn giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh và hình phạt: Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên bố bị cáo Đoàn Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và xử phạt bị cáo mức án từ 06 (sáu) năm đến 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Tại bản án số 16/2021/HSST ngày 12/4/2021 Tòa án nhân dân thị xã GR xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng Điều 55 và khoản 1 Điều 56 Bộ luật Tố tụng hình sự, buộc bị cáo chấp hành chung hình phạt của hai bản án từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng của vụ án là 01 gói niêm phong mẫu vật còn lại sau giám định có đặc điểm: số 06/GĐ – 2021 có chữ ký ghi tên Nguyễn Anh D và 04 (bốn) dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu; 01 (một) phễu thủy tinh (còn gọi là nỏ) một đầu có hình cầu; 01 (một) túi vải màu đỏ có dây kéo bên ngoài túi vải có chữ “Lợi Lộc”; 01 (một) chai nhựa màu trắng có nắp màu hồng trên nắp có hai lổ, một lổ gắn ống nhựa màu vàng, một lổ gắn ống nhựa màu trắng.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Đoàn Văn P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Đối với Trịnh Thiên Đ và Mai Thị D không biết bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy trên người nên không đề cập xử lý.

Đối với người tên H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã GR không xác định được người tên H do không rõ họ tên, địa chỉ nên chưa có cơ sở xác minh, xử lý.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin lỗi gia đình của bị cáo. Mức án mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã GR đề nghị là nặng nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã GR, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã GR, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Đoàn Văn P: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Đoàn Văn P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã được tóm tắt ở phần nội dung vụ án. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người liên quan, người chứng kiến, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 18/12/2020 bị cáo Đoàn Văn P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với tổng khối lượng là 3,42095gam (trong đó ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,53265gam, loại Methylenedioxymethamphetamin (MDMA) có khối lượng 2,88830gam). Bị cáo Đoàn Văn P bị Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xử phạt 12 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án số 105/2005/HSST ngày 16/6/2005 và 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo bản án số 10/2015/HSST ngày 13/4/2015, lần phạm tội này là tái phạm, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt vào ngày 22/9/2018. Đến ngày 18/12/2020 bị cáo chưa được xóa án tích nhưng bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với tổng khối lượng là 3,42095gam và bị bắt quả tang nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, hành vi của bị cáo Đoàn Văn P có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân thị xã GR truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

[3] Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp xâm phạm đến tính độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm hại trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Bản thân bị cáo là người trưởng thành, có đủ năng lực hành vi, nhận thức rõ tác hại của ma túy nhưng do xem thường pháp luật nên bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an nên cần xử lý nghiêm để giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất mức độ hành vi, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng do bị cáo đã từng bị kết án và sau khi chấp hành án xong chưa được xóa án tích thì bị cáo lại tiếp tục phạm tội, đồng thời ngày 12/4/2021 bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã GR tuyên phạt 02 (hai) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo bản án số 16/2021/HSST. Điều này thể hiện bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân. Do đó, cần phải có mức án nghiêm khắc để cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Đối với Trịnh Thiên Đ và Mai Thị D không biết bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy trên người nên không đề cập xử lý.

[7] Đối với người tên H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã GR không xác định được người tên H do không rõ họ tên, địa chỉ nên chưa có cơ sở xác minh, xử lý.

[8] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng của vụ án là 01 (một) gói niêm phong mẫu vât còn lại sau giám định có đặc điểm: số 06/GĐ – 2021 có chữ ký ghi tên Nguyễn Anh D và 04 (bốn) dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu; 01 (một) phễu thủy tinh (còn gọi là nỏ) một đầu có hình cầu; 01 (một) túi vải màu đỏ có dây kéo bên ngoài túi vải có chữ “Lợi Lộc”; 01 (một) chai nhựa màu trắng có nắp màu hồng trên nắp có hai lổ, một lổ gắn ống nhựa màu vàng, một lổ gắn ống nhựa màu trắng.

[9] Qua phân tích trên, xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã GR là có căn cứ và đúng quy định pháp luật nên được chấp nhận.

[10] Về án phí sơ thẩm hình sự: Bị cáo Đoàn Văn P phải chịu án phí theo quy định của khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn P (tên gọi khác: PK, PX) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đoàn Văn P 06 (sáu) năm tù.

Tại bản án số 16/2021/HSST ngày 12/4/2021 của Tòa án nhân dân thị xã GR, tỉnh Bạc Liêu xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ vào Điều 55, khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Đoàn Văn P phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 18/12/2020.

2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng của vụ án là 01 (một) gói niêm phong mẫu vât còn lại sau giám định có đặc điểm: số 06/GĐ – 2021 có chữ ký ghi tên Nguyễn Anh D và 04 (bốn) dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu; 01 (một) phễu thủy tinh (còn gọi là nỏ) một đầu có hình cầu; 01 túi vải màu đỏ có dây kéo bên ngoài túi vải có chữ “Lợi Lộc”; 01 (một) chai nhựa màu trắng có nắp màu hồng trên nắp có hai lổ, một lổ gắn ống nhựa màu vàng, một lổ gắn ống nhựa màu trắng (Hiện Chi cục Thi hành án dân sự thị xã GR, tỉnh Bạc Liêu đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/4/2021).

3. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Đoàn Văn P phải chịu 200.000 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ