vanban.org

Bản án 35/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu Tuyên án 29/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cao Trọng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Cao Trọng T 18 (mười tám) tháng tù, bị cáo được khấu trừ 09 (chín) ngày bị tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành 17 (mười bảy) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đến cơ sở giam giữ chấp hành hình phạt tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Trọng T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cao Trọng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 44 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TAND HUYỆN TAM ĐƯỜNG
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2021/HS-ST
Ngày 29/9/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thị Tuyết

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tịnh

Bà Trần Thị Hoa

- Thư ký phiên toà: Ông Sùng A Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đường

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Hữu - Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2021/TLST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2021/QĐXXST-HS ngày 17/9/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Cao Trọng T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

Sinh năm 1978;

Tại: Huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản S, thị trấn T1, huyện 1, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: Cao Trọng Th , sinh năm 1949; con bà: Bùi Thị M, sinh năm 1953. Gia đình bị cáo có 03 anh em. Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Vợ: Tòng Thị D sinh năm 1984; Bị cáo có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại bản án hình sự số 11/HS-ST ngày 13/2/1998 của Tòa án nhân dân thị xã Điện Biên Phủ áp dụng khoản 1 Điều 205, Điều 44 BLHS và Nghị định 70/CP xử phạt Cao Trọng T 09 tháng tù về tội chống người thi hành công vụ, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng; Tại bản án hình sự số 04 ngày 04/02/1999 của Tòa án nhân dân thị xã Điện Biên Phủ áp dụng khoản 1 Điều 198 khoản 2 điều 42; khoản 1 khoản 5 điều 44, khoản 1 điều 39 BLHS xử phạt Cao Trọng T 18 tháng tù giam về tội Gây rối trật tự công cộng, tổng hợp hình phạt của nhiều bản án buộc bị cáo Cao Trọng T phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án là 27 tháng tù giam; Tại bản án số 47 ngày 14/4/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên áp dụng khoản 1 điều 138, điểm p khoản 1, khoản 2 điều 46 BLHS tuyên phạt Cao Trọng T 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản; Tại bản án hình sự số 35 ngày 09/01/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, i khoản 1 Điều 48; Điểm p khoản 1 điều 46 BLHS xử phạt Cao Trọng T 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Tại bản án hình sự số 20 ngày 19/7/2015 của Tòa án nhân dân huyện Tam Đường áp dụng khoản 1 điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 điều 46, điều 20, điều 53 BLHS tuyên phạt Cao Trọng T 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đến ngày 06/3/2017 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, đến ngày phạm tội 03/6/2021 bị cáo đã được xóa án tích theo quy định.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 03/6/2021 đến ngày 12/6/2021 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, giao bị cáo cho UBND thị trấn T1, huyện T, tỉnh Lai Châu quản lý theo dõi đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Vào khoảng 11 giờ 43 phút ngày 03/6/2021 Công an xã B, huyện T đang làm nhiệm vụ tại khu vực bản N, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu Công an xã B, huyện T phát hiện, bắt quả tang Lò Văn A sinh năm 1976 trú tại bản Nà Khan, xã Bình Lư, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu đang tàng trữ trái phép 01 gói Heroine được gói ngoài bằng bằng mảnh giấy có chữ và hình trong móc khóa của xe mô tô biển kiểm soát 25B1 – 374.75 để sử dụng cho bản thân. Tại cơ quan điều tra Lò Văn A khai nhận, số Heroine bị thu giữ là của A mua của Cao Trọng T sinh năm 1978, trú tại Bản S, thị trấn T1, huyện T, tỉnh Lai Châu với giá 100.000 đồng để sử dụng cho bản thân.

Trên cơ sở lời khai của Lò Văn A và các tài liệu có trong hồ sơ vào hồi 15 giờ 45 phút ngày 03/6/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Tam Đường thi hành lệnh khám xét khẩn cấp đối với người, chỗ ở, đồ vật, phương tiện, tài sản đối với Cao Trọng T. Quá trình khám xét, Cao Trọng T tự khai nhận và giao nộp 01 gói Heroine được gói ngoài bằng mảnh giấy trắng và được cho vào mảnh nilon được cắt ra từ bơm kim tiêm được cất giấu tại ngăn tủ trên cùng phía bên trái của tủ đồ ở phòng bếp. Tiếp tục khám xét cơ quan điều tra thu giữ 01 gói Heroine được gói ngoài cùng bằng mảnh giấy trắng, bên trong gói bằng mảnh nilon màu xanh trong ống kim loại hình trụ ở ngăn tủ trên cùng phía bên trái tủ đựng đồ; 04 gói Heroine mỗi gói đều được gói ngoài bằng mảnh giấy màu trắng thu giữ trong chậu cây cảnh ở dưới kệ tivi trong phòng bếp. Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Đường đã tiến hành lập biên bản, thu giữ niêm phong vật chứng và đưa Cao Trọng T về trụ sở cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Đường để làm việc.

Quá trình điều tra, truy tố Cao Trọng T khai nhận: Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 01/6/2021 T một mình đi từ nơi ở của mình đến bản Thác Cạn, thị trấn Tam Đường, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu để tìm mua Heroine về sử dụng cho bản thân. Khi đi đến đoạn đường C thộc địa phận bản T2, thị trấn T1, huyện T T gặp một người nam giới khoảng 30 tuổi không biết tên, tuổi, địa chỉ. Qua trao đổi, T nhờ người nam giới mua hộ 600.000 đồng Heroine. Người nam giới nhất trí, cầm tiền đi đâu, làm gì T không biết. Khoảng 15 phút sau người nam giới quay lại đưa cho T 01 gói Heroine được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh, mua được Heroine T đi về nhà, T lấy một ít ra sử dụng bằng hình thức chích, số Heroine còn lại T chia thành 06 gói nhỏ để sử dụng cho bản thân. Đến 15 giờ 45 phút ngày 03/6/2021 CQCSĐT Công an huyện Tam Đường thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, đồ vật, phương tiện, tài sản, Cao Trọng T tự khai nhận và giao nộp 01 gói Heroine, đối với 05 gói Heroine còn lại trong quá trình khám xét khẩn cấp Cơ quan CSĐT công an huyện Tam Đường đã phát hiện, thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định.

Tại bản kết luận giám định số 21, 22/KLGĐ cùng ngày 04/6/2021 của ông Phan Văn Huỳnh - Người giám định tư pháp theo vụ việc trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự, theo Quyết định công bố danh sách người giám định tư pháp theo vụ việc lĩnh vực kỹ thuật hình sự trên địa bàn tỉnh Lai Châu. Kết luận:

Gói chất bột khô màu trắng thu giữ của Lò Văn A có khối lượng 0,09 gam (Không phẩy không chín gam).

Số chất bột khô màu trắng thu giữ của Cao Trọng T có tổng khối lượng là: 0,39 gam (Không phẩy ba mươi chín gam).

Tại bản kết luận giám định số 417/GĐ-KTHS ngày 08 /6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 06 mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Cao Trọng T gửi giám định là ma túy: loại Heroine.

Tại bản kết luận giám định số 418/GĐ-KTHS ngày 08/6/20201 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 01 mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn A gửi giám định là ma túy: loại Heroine.

Ngoài ra cơ quan điều tra còn tạm giữ của Cao Trọng T 01 cân điện tử màu đen và số tiền 2.550.000 đồng. Tạm giữ của Lò Văn A 01 xe mô tô biển kiểm soát 25B1 – 374.75, 01 chùm chìa khóa. Do khối lượng Heroine thu giữ của Lò Văn A không đủ để xử lý hình sự, Lò Văn A chưa có tiền án, tiền sự vì vậy cơ quan điều tra Công an huyện Tam Đường đã tách hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, cùng xe mô tô BKS: 25B1- 374.75, 01 chùm chìa khóa của Lò Văn A để giải quyết theo quy định.

Bản cáo trạng số 30/CT-VKSTĐ, ngày 16/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường truy tố bị cáo Cao Trọng T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận điều tra và bản cáo trạng nêu trên.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát huyện Tam Đường giữ nguyên quan điểm truy tố của mình đồng thời phân tích, đánh giá toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Cao Trọng T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Cao Trọng T từ 18 tháng đến 24 tháng tù, khấu trừ 09 ngày tạm giữ cho bị cáo, ấn định hình phạt tù còn lại, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đến cơ sở giam giữ để chấp hành hình phạt tù. Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo; Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì làm bằng phong bì Công văn do công an huyện Tam Đường phát hành mặt trước phong bì ghi “Phong bì niêm phong vật chứng, mảnh nilon được cắt ra từ vỏ của túi đựng bơm kim tiêm (xilanh), cùng các mảnh giấy trắng gói vật chứng ban đầu thu giữ trong quá trình khám xét của Cao Trọng T, sinh năm: 1978 trú tại bản S, T1, huyện T, tỉnh Lai Châu”, 01 (một) cân tiểu ly điện tử màu đen đựng trong 01 túi da màu đen. Bị cáo Cao Trọng T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Cao Trọng T không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường.

Tại lời nói sau cùng bị cáo Cao Trọng T xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Đường, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa hôm nay cũng như quá trình điều tra bị cáo Cao Trọng T đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ căn cứ khẳng định: Vào hồi 15 giờ 45 phút ngày 03/6/2021 tại nơi ở của mình thuộc địa phận bản S, thị trấn T1, huyện T, tỉnh Lai Châu, Cao Trọng T đang tàng trữ trái phép 06 gói Heroine có tổng khối lượng 0,39 gam để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Đường khám xét, phát hiện, thu giữ toàn bộ vật chứng.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đủ khả năng nhận biết ma túy là độc dược gây nghiện, làm tổn hại cho sức khỏe, nhân phẩm của con người và là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Như vậy, đủ cơ sơ để khẳng định hành vi của bị cáo Cao Trọng T đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Nhân thân: Bị cáo Cao Trọng T có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện ma túy, đã từng bị Tòa án xét xử và phải đi chấp hành án, chịu sự giáo dục nghiêm khắc, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; trong quá trình khám xét khẩn cấp bị cáo đã tự khai nhận và giao nộp 01 gói Heroine. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Đối với 0,39 gam (không phẩy ba mươi chín) heroine thu giữ của bị cáo Cao Trọng T đã gửi đi giám định không hoàn lại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với một phong bì làm bằng phong bì Công văn do công an huyện Tam Đường phát hành mặt trước phong bì ghi “Phong bì niêm phong vật chứng, mảnh nilon được cắt ra từ vỏ của túi đựng bơm kim tiêm (xilanh), cùng các mảnh giấy trắng gói vật chứng ban đầu thu giữ trong quá trình khám xét của Cao Trọng T, sinh năm: 1978 trú tại bản S, T1, huyện T, tỉnh Lai Châu” là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) cân tiểu ly điện tử màu đen đựng trong 01 túi da màu đen là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, bị cáo không đề nghị xin nhận lại, xét thấy đây là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Những vấn đề liên quan:

Trên cơ sở kết quả điều tra, ngày 09/9/2021 Cơ quan Cánh sát điều tra Công an huyện Tam Đường đã ra Quyết định số 19/QĐ - CQĐT trả lại cho chị Tòng Thị Doan (chủ sở hữu hợp pháp) số tiền 2.550.000 đồng. Việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Đối với người nam giới khoảng 30 tuổi đã mua Heroine cho bị cáo vào ngày 01/6/2021 tại khu vực bản T2, thị trấn T1, huyện T, tỉnh Lai Châu. Do nhân thân lai lịch của người nam giới này không rõ ràng nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ và xử lý;

Theo lời khai của Lò Văn A vào ngày 03/6/2021 A có mua được của Cao Trọng T 01 gói Heroine có khối lượng 0,09 gam. Quá trình điều tra, tiến hành lấy lời khai, đối chất giữa bị cáo T và Lò Văn A; T không thừa nhận hành vi bán trái phép 01 gói Heroine cho Lò Văn A, ngoài lời khai của Lò Văn A không có tài liệu, chứng cứ khác để để chứng minh, vì vậy không có đủ căn cứ để xử lý hành vi mua bán trái phép chất ma túy đối với Cao Trọng T.

Về án phí:

Bị cáo Cao Trọng T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cao Trọng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Cao Trọng T 18 (mười tám) tháng tù, bị cáo được khấu trừ 09 (chín) ngày bị tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành 17 (mười bảy) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đến cơ sở giam giữ chấp hành hình phạt tù.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

3. Về vật chứng của vụ án:

Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì làm bằng phong bì Công văn do công an huyện Tam Đường phát hành mặt trước phong bì ghi “Phong bì niêm phong vật chứng, mảnh nilon được cắt ra từ vỏ của túi đựng bơm kim tiêm (xilanh), cùng các mảnh giấy trắng gói vật chứng ban đầu thu giữ trong quá trình khám xét của Cao Trọng T, sinh năm: 1978 trú tại bản Sân Bay, TT Tam Đường, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu”, 01 (một) cân tiểu ly điện tử màu đen đựng trong 01 túi da màu đen.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 16 giờ 00 phút ngày 16/9/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Đường với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tam Đường).

4. Về án phí: Bị cáo Cao Trọng T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ