- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Út - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn A phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2021/HS-ST. Ngày: 30 - 12 - 2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trà Minh Châu.
Ông Thạch Thanh Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hiệp Văn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Dương Hồng Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2021/HSST, ngày 18 tháng 12 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2021/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn A; sinh ngày 01/01/1971; nơi sinh: Tại tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: Ấp P, xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh G, sinh năm 1912 (đã chết) và bà Trần Thị S, sinh năm 1927 (đã chết); có vợ là Ngô Thị Thúy A, sinh năm 1980; có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án: Không; tiền sự: 01, ngày 19/5/2020 bị Công an xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăng ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “đánh bạc”, chưa chấp hành xong quyết định nên chưa được xóa tiền sự; bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/7/2021 cho đến nay (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn A: Bà Phan Chúc G - Là Luật sư, cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Trần Văn H, sinh năm 1979; nơi cư trú: Ấp P, xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
2. Ông Trần Thống N, sinh năm 1980; nơi cư trú: Ấp, thị trấn Đ, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
3. Ông Lê Thành P, sinh năm 1956; nơi cư trú: Ấp P, xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
4. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1974; nơi cư trú: Ấp P, xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1972 dùng quán nước giải khát của mình thuộc ấp P, xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăng làm địa điểm đánh bạc trái phép cho các đối tượng đến đánh bạc nhằm thu lợi từ việc bán nước giải khát, bán bài tây. Vào khoảng 20 giờ 30 phA ngày 01/5/2021, lực lượng Công an huyện L tiến hành kiểm tra và bắt quả tang tại khu vực quán bán nước giải khát của bà Nguyễn Thị B có các đối tượng đang tham gia đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi đánh bài binh sập xám ăn thua bằng tiền trên bàn bi da, gồm: Lê Văn A, Trần Văn H, Trần Thống N và Lê Thành P. Hình thức đánh bạc trái phép là chơi bài binh sập xám, ăn thua bằng tiền trực tiếp với nhau, mỗi ván đặt cược 20.000 đồng. Các đối tượng không để tiền dưới chiếu bạc, ai thua cược thì lấy tiền trên người trả cho người thắng cược. Tham gia được 16 ván, đang chuẩn bị đặt ván thứ 17 thì bị bắt quả tang với số tiền dùng đánh bạc tại chiếu bạc là 20.000 đồng, số tiền thu trên người của các đối tượng dùng để đánh bạc là 1.678.000 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là 1.698.000 đồng. Hành vi đánh bạc của từng đối tượng cụ thể như sau:
Lê Văn A đến quán nước giải khát của bà B (địa điểm đánh bạc) vào lúc khoảng 19 giờ ngày 01/5/2021 để tham gia đánh bạc trái phép, A mang theo số tiền 90.000 đồng để trong túi dùng vào mục đích đánh bạc, không nhớ thắng thua, lúc bị thu giữ 90.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, loại bàn phím dùng để liên lạc cá nhân không dùng vào việc đánh bạc.
Trần Thống N đến quán nước giải khát của bà B (địa điểm đánh bạc) vào lúc khoảng hơn 19 giờ ngày 01/5/2021 để tham gia đánh bạc trái phép, N mang theo số tiền 418.000 đồng để trong ví dùng vào mục đích đánh bạc, số tiền tang vật 20.000 đồng bị bắt tại chiếu bạc là của N thắng được, bị thu giữ 418.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu trắng - vàng, 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, Future, màu đỏ-đen, biển kiểm soát 83P1-819.65 dùng để liên lạc, phương tiện cá nhân không dùng vào việc đánh bạc.
Lê Thành P đến quán nước giải khát của bà B (địa điểm đánh bạc) vào lúc khoảng 19 giờ ngày 01/5/2021 để tham gia đánh bạc trái phép, P mang theo số tiền 985.000 đồng, sử dụng 320.000 đồng để đánh bạc (đã thua 80.000 đồng). Lúc bị bắt bị thu giữ trên người số tiền 905.000 đồng trong đó để trong túi áo trái 240.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc còn số tiền 665.000 đồng để tiêu xài cá nhân và 01 xe mô tô nhãn hiệu DAELIMIKD, loại WAVERS biển kiểm soát 83PT-312.65 dùng làm phương tiện cá nhân không sử dụng vào mục đích đánh bạc.
Trần Văn H đến quán nước giải khát của bà B (địa điểm đánh bạc) vào lúc khoảng hơn 18 giờ ngày 01/5/2021 để tham gia đánh bạc trái phép, H không nhớ mang theo bao nhiêu tiền để đánh bạc, thắng được 80.000 đồng. Lúc bị bắt bị thu giữ 930.000 đồng (bao gồm số tiền thắng cược 80.000 đồng) và đều sử dụng vào mục đích đánh bạc.
Số tiền thu giữ tại chiếu bạc là 20.000 đồng là của Trần Thống N, đồng thời số tiền thu giữ trên người của A, N, P và H khai nhận dùng vào mục đích đánh bạc là 1.678.000 đồng.
Quá trình bắt quả tang đã thu giữ được vật chứng: Thu giữ tại chiếu bạc số tiền dùng đánh bạc là 20.000 đồng; 52 là bài tây đã qua sử dụng và 01 bộ bài tây loại 52 lá chưa sử dụng. Thu giữ trên người của Lê Văn A số tiền 90.000 đồng và thu giữ của A 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, loại bàn phím. Thu giữ trên người của Trần Thống N số tiền 418.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu trắng – vàng và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, Future, màu đỏ-đen, biển kiểm soát 83P1-819.65. Thu giữ trên người của Lê Thành P số tiền 905.000 đồng và 01 xe mô tô nhãn hiệu DAELIMIKD, loại WAVERS biển kiểm soát 83PT-312.65. Thu giữ trên người của Trần Văn H số tiền 930.000 đồng.
Đối với số tiền đánh bạc 1.698.000 đồng; 52 là bài tây đã qua sử dụng và 01 bộ bài tây loại 52 lá chưa sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Phú đã chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Phú quản lý theo quy định. Số tiền 665.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA loại bàn phím; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu trắng vàng; 01 xe mô tô nhãn hiệu DAELIMIKD, loại WAVERS biển kiểm soát 83PT-312.65 và 01 xe mô tô một xe mô tô nhãn hiệu HONDA FUTURE, biển kiểm soát 83P1-819.65 không dùng vào việc đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Phú đã trả lại cho cho sở hữu.
Quá trình xác minh nhân thân, xác định được Lê Văn A có 01 tiền sự đã bị Công an xã S ban hành quyết định xử phạt hành chính số: 17/QĐ-XPHC ngày 19/5/2020 về hành vi đánh bạc, đến nay chưa chấp hành xong việc đóng phạt, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Xét thấy có đủ căn cứ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Văn A về Tội đánh bạc để điều tra làm rõ. Quá trình điều tra, bị can đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại bản cáo trạng số: 35/CT-VKSLP ngày 18/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng để xét xử Lê Văn A về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự).
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Văn A đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện như đã nêu trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lê Văn A đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Vì Lê Văn A có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc, chưa chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính nhưng vào ngày 01/5/2021 tại quán nước giải khác của bà Nguyễn Thị B, tọa lạc tại ấp P, xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăng, A đã tiếp tục tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền với Trần Văn H, Trần Thống N và Lê Thành P với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 1.698.000 đồng. Hành vi của Lê Văn A là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toán công cộng, nếp sống văn minh tại địa phương. Trên cơ sở đó đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Văn A phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 38; điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lê Văn A. Xử phạt bị cáo Lê Văn A từ 03 tháng đến 05 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 52 là bài tây đã qua sử dụng và 01 bộ bài tây loại 52 lá chưa sử dụng. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền thu trên chiếu bạc 20.000 đồng và số tiền thu trên người của Lê Văn A, Trần Thống N, Lê Thành P và Trần Văn H dùng vào mục đích đánh bạc là 1.678.000 đồng, cụ thể: Lê Văn A 90.000 đồng, Trần Thống N 418.000 đồng, Lê Thành P 240.000 đồng và Trần Văn H 930.000 đồng.
Về án phí: Do bị cáo người khuyết tật và có đơn đề nghị miễn án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội miễn án phí cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bà Phan Chúc G bào chữa cho bị cáo Lê Văn A cho rằng: Thống Nhất với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú về tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về hoàn cảnh gia đình của bị cáo là người không biết chữ, nhiễm chất độc da cam và bị khuyết tật vận động khó khăn, bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có cha là người có công với cách mạng trên cơ sở đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 và Nghị quyết số 02/2018/HĐTPTANDTC ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xử bị cáo Lê Văn A mức khởi điểm mà vị đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị và cho bị cáo được hưởng án treo. Về án phí do bị cáo người khuyết tật và có đơn đề nghị miễn án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội miễn án phí cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Lê Văn A: Bị cáo nhận thấy hành vi mà bị cáo đã thực hiện là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Thị B. Xét sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu hoãn phiên tòa. Sau khi thảo luận tại phòng xử án, căn cứ vào các điều 292 và 299 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Tại phiên toà, bị cáo Lê Văn A khai nhận: Vào lúc 20 giờ 30 phA ngày 01/5/2021, tại khu vực quán nước của bà Nguyễn Thị B, tọa lạc ấp P, xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăng lực lượng Công an huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tiến hành kiểm tra và bắt quả tang Lê Văn A đang tham gia đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền trên bàn bi da với Trần Văn H, Trần Thống N và Lê Thành P. Hình thức đánh bạc trái phép là chơi bài binh sập xám, ăn thua bằng tiền trực tiếp với nhau, mỗi ván đặt cược 20.000 đồng, tham gia được 16 ván, đang chuẩn bị đặt ván thứ 17 thì bị bắt quả tang với số tiền dùng đánh bạc tại chiếu bạc là 20.000 đồng, số tiền thu trên người của các đối tượng dùng vào mục đích đánh bạc là 1.678.000 đồng, trong đó bị cáo Lê Văn A 90.000 đồng, ông Trần Thống N 418.000 đồng, ông Lê Thành P 240.000 đồng và ông Trần Văn H 930.000 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là 1.698.000 đồng.
Đối với lời khai nhận tội và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy, lời thừa nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai trước đây của bị cáo tại Cơ quan điều tra và hoàn toàn phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan Điều tra đã thu thập được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Bị cáo đã có 01 tiền sự về hành vi “Đánh bạc trái phép dưới hình thức lắc bầu cua được, thua bằng tiền”, chưa chấp hành xong việc đóng phạt thì bị cáo chưa đủ thời gian để được xóa tiền sự nên bị cáo đã nhận thức được rằng việc đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền, cụ thể là đánh bài sập xám nhằm mục đích thu lợi bất chính là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Mặt khác, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện là người bình thường có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã thực hiện cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Vì vậy, cáo trạng số: 35/CT-VKS-LP, ngày 18/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện L truy tố bị cáo Lê Văn A về tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về trật tự công cộng, là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân nên bị cáo phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có đủ điều kiện và thời gian cải tạo, răn đe và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đảm bảo công tác phòng chống tội phạm trong tình hình mới tại địa phương và có tác dụng phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nhận thấy:
Bị cáo Lê Văn A không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo chưa có tiền án nhưng có nhân thân xấu vì có 01 tiền sự về hành vi “Đánh bạc trái phép dưới hình thức lắc bầu cua được, thua bằng tiền”, chưa chấp hành xong nên chưa được xóa tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là người không biết chữ, bị nhiễm chất độc da cam/dioxin và bị khuyết tật mức độ nhẹ; cha bị cáo là người có công với cách mạng nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Trên cơ sơ đó, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xem xét cho bị cáo Lê Văn A được hưởng một phần hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với bị cáo.
Từ những căn cứ đã phân tích nêu trên: Xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo đề nghị hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 là chưa tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên hội đồng xét xử không chấp nhận.
Xét đề nghị của Vị đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú là có căn cứ nên hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với Nguyễn Thị B có cho các đối tượng đánh bạc tại khu vực quán để bán nước giải khát, bán bài; Trần Văn H, Trần Thống N và Lê Thành P tham gia đánh bạc cùng Bị cáo A với số tiền 1.698.000 đồng và chưa có tiền án, tiền sự nên hành vi của bà B, ông H, ông N, ông P chưa đủ yếu tố cấu thành phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Phú không bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà bị xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định pháp luật.
Về xử lý vật chứng (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/11/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện L và Chi cục Thi hành án dân sự huyện L): Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện L đã thu giữ và chưa xử lý các vật chứng vụ án gồm:
52 (năm mươi hai) là bài tây đã qua sử dụng và 01 (một) bộ bài tây loại 52 (năm mươi hai) lá chưa sử dụng. Xét thấy, các vật chứng nêu trên là công cụ phạm tội nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy.
Đối với số tiền thu giữ trên chiếu bạc và trên người của bị cáo dùng vào mục đích đánh bạc tại thời điểm bắt quả tang, cụ thể: Thu trên chiếu bạc 20.000 đồng và số tiền thu trên người của bị cáo Lê Văn A, ông Trần Thống N, ông Lê Thành P và ông Trần Văn H dùng vào mục đích đánh bạc là 1.678.000 đồng, cụ thể: Lê Văn A 90.000 đồng, Trần Thống N 418.000 đồng, Lê Thành P 240.000 đồng và Trần Văn H 930.000 đồng. Xét thấy, các số tiền trên dùng vào mục đích đánh bạc nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 38; điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
1.Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn A phạm tội “Đánh bạc”.
2. Phạt bị cáo Lê Văn A 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi chấp hành án hoặc từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, điểm b khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố Tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy 52 (năm mươi hai) là bài tây đã qua sử dụng và 01 (một) bộ bài tây loại 52 (năm mươi hai) lá chưa sử dụng.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền thu giữ trên chiếu bạc là 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng) và số tiền thu trên người của Bị cáo A, N, P và H dùng vào mục đích đánh bạc là 1.678.000 đồng (một triệu, sáu trăm chín mươi tám nghìn đồng), cụ thể: Bị cáo Lê Văn A 90.000 đồng (chín mươi), ông Trần Thống N 418.000 đồng (bốn trăm mười tám nghìn đồng), ông Lê Thành P 240.000 đồng (hai trăm bốn mươi nghìn đồng) và ông Trần Văn H 930.000 đồng (chín trăm ba mươi nghìn đồng).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Lê Văn A là người khuyết tật và có đơn đề nghị miễn án phí nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Thị B vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người bào chữa; - VKSND huyện L. - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - CQĐT CA huyện L; - Cơ quan THAHS CA huyện L; - Cơ quan THAHS CA tỉnh Sóc Trăng; - Chi cục THADS huyện L; - TAND tỉnh Sóc Trăng (PKTNV-THA). - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Ngọc Ánh |