- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Hoàng T, phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án số: 35/2021/HS-ST Ngày: 13 – 4 – 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Quốc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Chí Lin
Bà Nguyễn Thị Rạt
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Cương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Dương – Kiểm sát viên;
Trong ngày 13 tháng 4 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 32/2021/TLST-HS, ngày 26 tháng 3 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2021/QĐXXST – HS ngày 31 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hoàng T, sinh năm 2000; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không có; Nơi sinh: tỉnh Long An; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú/chỗ ở hiện nay: Ấp 4, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; Dân tộc: kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: làm thuê; Chức vụ: không có; Họ và tên cha: Nguyễn Văn C, sinh năm 1972 (chết); Họ và tên mẹ: Phạm Thị L, sinh năm: 1971 (sống); Em ruột có 01 người em, sinh năm: 2005; Họ và tên vợ: Phạm Thị Thoại M, sinh năm 2000; Con: có 01 người con, sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không có.
Biện pháp ngăn chặn: Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đức Hòa từ ngày 21 tháng 01 năm 2021 đến nay, bị cáo có mặt.
- Người làm chứng:
+ Ông Đậu Trọng H, sinh năm 1999 (vắng mặt).
+ Ông Lê Thanh T, sinh năm 2001 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 01 giờ ngày 07/01/2021, bị cáo Nguyễn Hoàng T đi bộ đến khu vực xóm Chùa thuộc xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An gặp nam thanh niên tên M (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 300.000 đồng ma túy tổng hợp (dạng đá), M đồng ý bán cho bị cáo T 02 bịch nylon hàn kín chứa ma túy tổng hợp (dạng đá) nhằm mục đích sử dụng. Sau khi mua xong, bị cáo T cất giấu 02 bịch ma túy vừa mua được vào túi quần Jean bên trái phía trước đang mặc rồi đi bộ đến khu vực ngã ba Tua 1 thuộc ấp Bình Hữu 2, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang cùng vật chứng vụ án. Vật chứng thu giữ gồm: 02 bịch nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy tổng hợp (dạng đá).
Tại bản Kết luận giám định số 24/2021/KLGĐ ngày 15/01/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 02 gói nylon hàn kín được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 0,2488 gam, loại: Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số 37/CT – VKSĐH ngày 23 tháng 3 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng T thừa nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng của đại diện Viện kiểm sát đã nêu.
Kiểm sát viên sau khi phân tích, đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo Nguyễn Hoàng T gây ra; căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Hoàng T không có thu lợi bất chính từ việc thực hiện hành vi phạm tội, do đó đề nghị không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 xử lý vật chứng như sau:
- Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số 24 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Long An bên trong có 0,0950 gam ma túy loại Methamphetamine trả lại sau giám định.
Đối với người thanh niên tên M có hành vi bán trái phép chất ma túy cho bị cáo T do không xác định được nhân thân, lai lịch của người này, chỉ qua lời khai duy nhất của bị cáo nên không đủ căn cứ để xử lý.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng T thừa nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã nêu. Bị cáo không tranh luận, bị cáo không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về thủ tục tố tụng:
. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Hòa và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các chứng cứ đã thu thập là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Đối với ông Đậu Trọng H, ông Lê Thanh T là những người làm chứng vắng mặt nhưng đã được cơ quan điều tra lấy lời khai làm rõ để xác định sự thật vụ án, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng gì đến phiên tòa nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ theo Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Đối chiếu lời khai của bị cáo Nguyễn Hoàng T tại phiên tòa với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; Kết luận giám định; lời khai của người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Hoàng T đã cất giữ 0,2488 gam ma túy ở thể rắn (loại Methamphetamine) mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy khác (bị cáo khai cất giữ số ma túy này để sử dụng), là phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, đúng như Viện kiểm sát đã truy tố. Hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng T không những đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về chế độ quản lý, trao đổi, cất giữ chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an chung. Bị cáo Nguyễn Hoàng T là người đã trưởng thành, bị cáo hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức được tác hại của ma túy, nhận thức được hành vi cất giữ ma túy là hành vi vi phạm pháp luật nhưng để thỏa mãn lối sống không lành mạnh và nhất là xem thường pháp luật nên bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Hoàng T là nghiêm trọng, bởi ma túy nói chung và Methamphetamine nói riêng là chất gây nghiện độc hại, việc sử dụng ma túy đã gây tác hại rất lớn và ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe, làm mất khả năng lao động, học tập của chính người sử dụng và đây cũng chính là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và để phòng ngừa chung. Do đó, mức hình phạt theo lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa có căn cứ, phù hợp pháp luật.
. Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng:
. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng T luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
. Về tình tiết tăng nặng: Không có.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì bị cáo Nguyễn Hoàng T còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo phạm tội không vụ lợi, là lao động tự do, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Hoàng T không có thu lợi bất chính từ việc thực hiện hành vi phạm tội, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Đối với 01 gói niêm phong số 24 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Long An bên trong có 0,0950 gam ma túy loại Methamphetamine trả lại sau giám định là chất ma túy, nhà nước nghiêm cấm sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
. Đối với người thanh niên tên M có hành vi bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Nguyễn Hoàng T do không xác định được nhân thân, lai lịch của người này, chỉ qua lời khai duy nhất của bị cáo nên không đủ căn cứ để xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét là hoàn toàn phù hợp.
. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thuờng Vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 và khoản 3 Điều 329, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thuờng Vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/01/2021. Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Hoàng T 45 ngày sau ngày tuyên án (ngày 13/4/2021) để đảm bảo cho việc thi hành án.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số 24 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Long An bên trong có 0,0950 gam ma túy loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định.
(Tang vật nêu trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 62/2021/NK ngày 25/3/2021).
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng T nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; Thẩm phán - VKSND huyện Đức Hòa; - CC THADS huyện Đức Hòa; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Quốc |