vanban.org

Bản án 35/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lý Thị Minh H:

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lý Thị Minh H được ly hôn với ông Bùi Nguyên M. Về nuôi con: Bà Lý Thị Minh H và ông Bùi Nguyên M có 02 con chung là Bùi Nguyên N, sinh ngày 26/7/2003 và Bùi Nguyên H, sinh ngày 19/9/2007; Giao cả 02 con chung cho bà Lý Thị Minh H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LHST Lý Thị Minh H - Bùi Nguyên M"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lý Thị Minh H:
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN K
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2021/HNGĐ-ST
Ngày 14-9-2021
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Sơn Thị Nhân

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Công Biên

Ông Vũ Văn Lẫy

- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng.

Ngày 14 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 95/2021/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2021, về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 580/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa só 631/2021/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lý Thị Minh H; nơi cư trú: Tổ G 2, phường P, quận K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt tại phiên, có đơn xin xét xử vắng mặt;

Bị đơn: Ông Bùi Nguyên M; nơi cư trú cuối cùng: Tổ G 2, phường P, quận K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai nguyên đơn trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Thị Minh H và ông Bùi Nguyên M có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tại UBND phường V, quận K, thành phố Hải Phòng vào ngày 16/11/2002. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, vợ chồng sinh được 02 con chung là Bùi Nguyên N, sinh ngày 26/7/2003; Bùi Nguyên H, sinh ngày 19/9/2007, được một thời gian thì vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, đỉnh điểm vào cuối năm 2006, nguyên nhân bất đồng quan điểm trong quan điểm sống, làm ăn kinh tế dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không thể khắc phục được. Bà Lý Thị Minh H đề nghị Tòa án xử cho bà được ly hôn với ông Bùi Nguyên M

Con chung: Bà Lý Thị Minh H và ông Bùi Nguyên M có 02 con chung là Bùi Nguyên N, sinh ngày 26/7/2003; Bùi Nguyên H, sinh ngày 19/9/2007, khi ly hôn bà Lý Thị Minh H nhận nuôi con Bùi Nguyên N và Bùi Nguyên H cho đến khi các con đủ 18 tuổi

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Lý Thị Minh H, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Bà Lý Thị Minh H không yêu cầu Toà án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng

- Về thẩm quyền: Ông Bùi Nguyên M; nơi cư trú tại cuối cùng tại phường P, quận K, thành phố Hải Phòng, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Tòa án nhân dân quận K đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử đối với ông Bùi Nguyên M theo quy định của pháp luật, tuy nhiên đến nay ông Bùi Nguyên M không có mặt tại phiên tòa, bà Lý Thị Minh H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm a và b khoản 2 Điều 227; điểm a khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.

Về quan hệ pháp luật: Bà Lý Thị Minh H và ông Bùi Nguyên M có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tại UBND phường V, quận K, thành phố Hải Phòng vào ngày 16/11/2002, Giấy chứng nhận kết hôn số 103, quyển số 01/2002. Vì vậy, hôn nhân giữa bà Lý Thị Minh H và ông Bùi Nguyên M là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về hôn nhân: Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, được một thời gian thì vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, đỉnh điểm vào cuối năm 2006, nguyên nhân bất đồng quan điểm trong quan điểm sống, làm ăn kinh tế dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không thể khắc phục được, đến tháng 4 năm 2017, ông Bùi Nguyên M bỏ nhà đi đâu, làm gì bà Lý Thị Minh H không biết.

Ngày 31/12/2020, bà Lý Thị Minh H có đơn yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết ông Bùi Nguyên M bị mất tích theo quy định của pháp luật.

Ngày 28 tháng 5 năm 2021, Tòa án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng ban hành Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc tuyên bố một người bị mất tích số: 01/2021/QĐST-TBMT; Tuyên bố ông Bùi Nguyên M, sinh năm 1976; nơi cư trú cuối cùng: Tổ G 2, phường P, quận K, thành phố Hải Phòng mất tích, như vậy trong quá trình chung sống mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đề nghị của bà Lý Thị Minh H xin ly ông Bùi Nguyên M là phù hợp pháp luật.

Về nuôi con: Bà Lý Thị Minh H và ông Bùi Nguyên M có 02 con chung là Bùi Nguyên N, sinh ngày 26/7/2003; Bùi Nguyên H, sinh ngày 19/9/2007, cả hai cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ, ông Bùi Nguyên M bị Tòa án tuyên bố mất tích, nên việc bà Lý Thị Minh H xin được trực tiếp nuôi các con là phù hợp, cần được chấp nhận; giao con Bùi Nguyên N và Bùi Nguyên H cho bà Lý Thị Minh H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Lý Thị Minh H không yêu cầu Tòa án giải quyết, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Bùi Nguyên M hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Bà Lý Thị Minh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà Lý Thị Minh H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a và b khoản 2 Điều 227, Điều 228 điểm a khoản 1 Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27, Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lý Thị Minh H:

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lý Thị Minh H được ly hôn với ông Bùi Nguyên M.

Về nuôi con: Bà Lý Thị Minh H và ông Bùi Nguyên M có 02 con chung là Bùi Nguyên N, sinh ngày 26/7/2003 và Bùi Nguyên H, sinh ngày 19/9/2007; Giao cả 02 con chung cho bà Lý Thị Minh H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Lý Thị Minh H không yêu cầu Tòa án giải quyết, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Bùi Nguyên M hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở

Về tài sản chung: Bà Lý Thị Minh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà Lý Thị Minh H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0015337ngày 02/7/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận K, thành phố Hải Phòng, Bà Lý Thị Minh H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 06, 07, 07a và 09 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ