vanban.org

Bản án 35/2020/LHST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Đinh Chí T

Cho anh Đinh Chí T được ly hôn chị Bùi Thị Thu H. Về con chung: 01 con chung là Đinh Hải P1 (nam), sinh ngày 21/12/2001 đã đủ 18 tuổi nên Tòa án không xét việc giao nuôi con; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Đinh Chí T
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN ĐỐNG ĐA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-----------
Bản án số : 35 /2020/LHST
Ngày 10/7/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Quỳnh Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Cờ

2. Ông Phạm Xuân Đệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Nhung - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 91/2020/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2020 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2020/QĐXX-ST ngày 22 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn : Anh Đinh Chí T - Sinh năm 1972 (có mặt).

Nơi ĐKHKTT: phố K, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Trú tại: ngõ S, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Bị đơn : Chị Bùi Thị Thu H - Sinh năm 1979 (vắng mặt).

Nơi ĐKHKTT: phố K, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội

Hiện đang chấp hành án tại Trại giam .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn xin ly hôn, bản tự khai, các ý kiến trình bày tại Tòa án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn anh Đinh Chí T trình bày:

Tôi và chị Bùi Thị Thu H kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn và được UBND xã T, huyện L, thành phố Hà Nội chứng nhận kết hôn ngày 08/04/2004. Sau khi kết hôn vợ chồng chúng tôi sống tại ngõ S, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp tính tình, thường xuyên cãi nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, sau đó đến thời điểm năm 2016 thì có phát sinh mâu thuẫn vì vợ tôi là chị Bùi Thị Thu H có tính lăng nhăng và vay mượn nợ nần. Tôi và gia đình đã khuyên bảo vài lần nhưng không được, chị H bỏ nhà đi từ năm 2017. Đến ngày 20/12/2018 thì chị H bị bắt về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và bị Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xử 30 tháng tù theo bản án số 91/HSST ngày 26/04/2019, hiện chị H đang thi hành án phạt tù tại trại giam. Nay tôi xác định tình cảm với chị H không còn, để ổn định cuộc sống, tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn chị H.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Đinh Hải P1 (nam), sinh ngày 21/12/2001; cháu Đinh Xuân P2 (nam), sinh ngày 27/9/2004. Sau khi ly hôn tôi xin trực tiếp nuôi hai con chung, do chị H đang chấp hành án nên tôi không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: (gồm động sản và bất động sản): Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Vợ chồng chúng tôi không có khoản vay nợ chung nào cả, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh T có đơn đề nghị vì hiện nay chị H đang chấp hành án phạt tù tại trại giam và giữa anh với chị H đã hết tình cảm nên đề nghị Tòa án không tiến hành phiên họp, hòa giải và đề nghị Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử để sớm ổn định cuộc sống nuôi con.

Ngoài các yêu cầu trên , tôi không còn yêu cầu gì khác.

Tại bản tự khai ngày 20/5/2020 có xác nhận của trại giam chị Bùi Thị Thu H trình bầy:

Chị và anh Đinh Chí T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, Hà Nội chứng nhận kết hôn ngày 08/04/2004. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc 15 năm sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi nhau anh T thường xuyên đánh đập tôi. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng hay bất đồng quan điểm trong cuộc sống và trong làm ăn kinh doanh, sau khi mâu thuẫn xảy ra hai bên gia đình đã nhiều lần dàn xếp nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã ly thân và thôi quan hệ sinh lý từ giữa năm 2016 đến nay. Cuối năm 2018 tôi bị bắt và phải đi chấp hành án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Nay anh T xin ly hôn tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên tôi đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng tôi có 02 con chung là cháu Đinh Hải P1 (nam), sinh ngày 21/12/2001; cháu Đinh Xuân P2 (nam) sinh ngày 27/9/2004 như anh T trình bầy là đúng. Hiện tại cháu P1 đã trưởng thành, cháu P2 hiện đang ở với anh T. Ly hôn anh T có nguyện vọng nuôi con, tôi đồng ý vì tôi đang chấp hành án nên không có điều kiện nuôi con. Anh T không yêu cầu tôi cấp dưỡng nuôi con tôi đồng ý vì hiện nay tôi đang chấp hành án nên không có điều kiện cấp dưỡng.

Về tài sản chung: (động sản và bất động sản): Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Vợ chồng tôi không có khoản vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tôi đã nhận được thông báo thụ lý vụ án trước khi viết bản tự khai. Do tôi đang chấp hành án phạt tù nên không đến Tòa án để giải quyết ly hôn được. Vì vậy tôi xin vắng mặt tại các buổi hòa giải, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt gửi Tòa án nhân dân quận Đống Đa vì hiện nay chị H đang chấp hành án tại Trại giam nên không thể trực tiếp đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử vụ án được. Đề nghị Tòa án, cho chị H vắng mặt tất cả các buổi làm việc cũng như phiên họp hòa giải của Tòa án và xin được vắng mặt trong tất cả các buổi phiên xét xử của Tòa án.

Tại phiên Toà hôm nay : Anh Đinh Chí T vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn đối với chị Bùi Thị Thu H và nguyện vọng được nuôi dưỡng 02 cháu Đinh Hải P1, cháu Đinh Xuân P2. Anh Đinh Chí T không yêu cầu chị Bùi Thị Thu H cấp dưỡng nuôi con.

Chị Bùi Thị Thu H vắng mặt tại phiên tòa.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên toà có quan điểm về thực hiện quyền giám sát pháp luật :

Phần thủ tục: Trong quá trình khởi kiện, thụ lý hồ sơ và giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và hội đồng xét xử đã tuân thủ đầy đủ, đúng các quy định của pháp luật về trình tự thủ tục giải quyết vụ án dân sự, đảm bảo được tính khách quan, công minh và tạo điều kiện cho các bên đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa, vì vậy căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

Phần nội dung: Anh T và chị H đều yêu cầu thuận tình ly hôn tại phiên tòa chị H có đơn xin xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của anh T và cho anh T được ly hôn chị H.

Về con chung : 01 con chung là Đinh Hải P1 (nam), sinh ngày 21/12/2001 đã đủ 18 tuổi nên Tòa án không xét việc giao nuôi con; Giao cho anh Đinh Chí T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đinh Xuân P2 (nam) sinh ngày 27/9/2004. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị H.

Về tài sản chung: anh T và chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Anh T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Đinh Chí T đã nộp: đơn khởi kiện kèm theo các tài liệu chứng cứ (đã thông báo trong thông báo thụ lý vụ án); Đơn đề nghị không tiến hành phiên họp và hoài giải, đề nghị Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Các tài liệu do Tòa án thu thập: Bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt của chị Bùi Thị Thu H.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Ngày 11/02/2020, Toà án nhân dân quận Đống Đa thụ lý vụ án đối với đơn khởi kiện của anh Đinh Chí T xin ly hôn chị Bùi Thị Thu H, Nơi ĐKHKTT: phố K, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội và hiện nay đang chấp hành án tại trại giam . Do vậy, Toà án nhân dân quận Đống Đa thụ lý giải quyết vụ kiện là đúng quy định của pháp luật theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, theo yêu cầu của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Trại giam đã giao thông báo thụ lý, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho chị Bùi Thị Thu H. Chị H đều nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng do chị H đang chấp hành án tại trại giam và chị đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành giải quyết vụ án và đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định pháp luật theo khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu xin ly hôn của anh T, nhận thấy :

Anh Đinh Chí T và chị Bùi Thị Thu H kết hôn năm 1997 trên cơ sở có tìm hiểu, lấy nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 08/04/2004 tại UBND Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, Hà Nội. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và làm ăn nên vợ chồng cãi vã nhau thường xuyên. Cả hai bên gia đình đã giàn xếp hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả, vợ chồng cũng đã sống ly thân từ năm 2017. Và đến năm 2019 chị H bị Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xử 30 tháng tù tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, hiện nay chị H đang chấp hành án tại trại giam . Anh T có đơn xin ly hôn, chị H cũng đồng ý ly hôn với anh T. Xét thấy anh T và chị H đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh chị đều đề nghị Tòa án giải quyết ly là hôn hoàn toàn tự nguyện. Do vậy, việc anh T có đơn yêu cầu ly hôn chị H là có căn cứ nên hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của anh T và cho anh T được ly hôn chị H theo quy định tại khoản 1 Điều 56 luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung : Xác nhận vợ chồng có 02 con chung là Đinh Hải P1 (nam), sinh ngày 21/12/2001; Đinh Xuân P2 (nam) sinh ngày 27/9/2004

Xét thấy: Trong suốt thời gian qua, các con chung đều do anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Tuy nhiên, cháu Đinh Hải P1 (nam), sinh ngày 21/12/2001 đã đủ 18 tuổi nên hội đồng xét xử không xem xét việc giao nuôi con, cháu P1 ở với ai là do cháu tự quyết định. Hội đồng xét xử xem xét đối với cháu Đinh Xuân P2 thì xét thấy: Anh T hiện có nơi cư trú rõ ràng, có thu nhập ổn định. Chị H hiện đang chấp hành án tại trại tạm giam nên không chăm sóc, nuôi dưỡng, dạy dỗ trực tiếp con chung được, bản thân chị H đồng ý giao con chung cho anh T nuôi dưỡng, cháu P2 cũng có nguyện vọng được ở với bố nên việc giao cho anh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung cũng phù hợp với thực tế và phù hợp với quy định tại điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Anh T không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với chị H cho đến khi anh T yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác.

Về tài sản chung

- Về động sản : Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

- Về bất động sản : Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

- Về công nợ : Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét

Các yêu cầu khác của các bên đương sự Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí và kháng cáo: Án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 đồng, anh T phải chịu cả.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51; khoản 1 điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Điều 5; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; 228; 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự,

Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Đinh Chí T

2. Cho anh Đinh Chí T được ly hôn chị Bùi Thị Thu H.

3. Về con chung: 01 con chung là Đinh Hải P1 (nam), sinh ngày 21/12/2001 đã đủ 18 tuổi nên Tòa án không xét việc giao nuôi con;

Giao cho anh Đinh Chí T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đinh Xuân P2 (nam) sinh ngày 27/9/2004

Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với chị Bùi Thị Thu H cho đến khi anh Đinh Chí T có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác.

Không ai được ngăn cản quyền đi lại thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung.

4. Về tài sản chung (động sản + bất động sản), công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí: Anh Đinh Chí T phải chịu 300.000đ án phí LHST (xác nhận đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí tại biên lai số 0009857 ngày 11/02/2020 Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa)

Án xử sơ thẩm công khai sơ thẩm, có mặt anh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vắng mặt chị H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hoặc kể từ ngày niêm yết bản án tại UBND xã (phường) nơi thường trú.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ