vanban.org

Bản án 35/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 15/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn N phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn N phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ÂN THI
TỈNH HƯNG YÊN
---------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2020/HSST
Ngày 15 tháng 9 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI - TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị T

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh B

Ông Trần Quang C

Thư ký phiên toà: Ông Dương Mạnh H – Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi tham gia phiên toà:

Ông Vũ Đức S – Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở UBND xã Hoàng Hoa Thám, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 28/2020/HSST ngày 30/7/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2020/QĐXXST-HS ngày 03/9/2020 đối với :

Bị cáo: Lê Văn N SN 1980 Giới tính: Nam

HKTT: Số 34 Chi Lăng, phường Minh Khai, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.

Chỗ ở: Ấp Tân Dân, xã Văn Nhuệ, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: Lao động tự do Chức vụ: Không Trình độ học vấn: 6/12

Con ông: Lê Văn Lãm (Đã chết) Con bà: Trần Thị Hà (Đã chết).

Vợ, con: Chưa

Tiền án, tiền sự: Chưa

Nhân thân:

- Ngày 09/01/2003, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Hưng Yên quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục trong thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 49/QĐ – UB do sử dụng trái phép chất ma tuý, trộm cắp tài sản.

- Ngày 16/10/2005, Công an thị trấn Ân Thi, huyện Ân Thi xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản bằng hình thức phạt tiền với mức phạt 200.000 đồng, theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04 – QĐ/XP.

- Ngày 21/11/2005, Công an thị xã Hưng Yên (nay là thành phố Hưng Yên) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy bằng hình thức phạt tiền với mức phạt 100.000 đồng theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính không số

- Bản án số 08/2006/HSST ngày 20/02/2006 của Tòa án nhân dân huyện Ân Thi xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, thời hạn tù tính từ ngày 20/11/2005, ngày 19/4/2006 chấp hành xong phần án phí, ngày 20/02/2007 chấp hành xong hình phạt tù.

- Bản án số 60/2008/HSST ngày 18/7/2008 của Tòa án nhân dân thị xã Hưng Yên (nay là thành phố Hưng Yên) xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, thời hạn tù tính từ ngày 09/5/2008, ngày 11/3/2009 chấp hành xong phần án phí, ngày 09/8/2009 chấp hành xong hình phạt tù.

- Bản án số 06/2010/HSST ngày 29/11/2010 của Tòa án nhân dân huyện Ân Thi xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, thời hạn tù tính từ ngày 28/9/2010, ngày 26/7/2011 chấp hành xong phần án phí, ngày 28/3/2012 chấp hành xong hình phạt tù.

- Bản án số 03/2012/HSST ngày 30/12/2012 củaTòa án nhân dân huyện Ân Thi xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, thời hạn tù tính từ ngày 22/8/2012, ngày 17/12/2012 chấp hành xong khoản án phí, ngày 22/8/2014 chấp hành xong hình phạt tù.

- Bản án số 15/2017/HSST ngày 21/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện Ân Thi xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án 19/9/2017, ngày 19/6/2017 chấp hành xong phần án phí, ngày 19/3/2019 chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 08/6/2020, chuyển tạm giam ngày 14/6/2020 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên.

Bị cáo tạm giam có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Ông Đặng Văn T SN 1964 (Vắng mặt)

Trú tại: Đỗ Hạ, Quang Vinh, Ân Thi, Hưng Yên

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện ma túy, nên khoảng 16 giờ ngày 08/6/2020, Lê Văn N mang theo 100.000 đồng và đi bộ một mình từ chỗ ở đến khu vực cầu vượt qua đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng thuộc địa phận thôn Đào Xá, xã Đào Dương, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên mục đích để mua ma túy về sử dụng. Khi đi qua khu vực cầu vượt khoảng 500 mét, đoạn gần chợ dân sinh thôn Đào Xá, xã Đào Dương, huyện Ân Thi gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi, không biết tên, tuổi, địa chỉ đang đứng một mình ở cạnh đường; N đi đến hỏi người đàn ông này “Có ma túy không, bán cho một trăm nghìn đồng”, người đàn ông trả lời “Có”, N lấy ra 100.000 đồng đưa cho người đàn ông cầm và người đàn ông đưa cho N 01 gói giấy nhỏ màu trắng kích thước (2 x 1,5)cm, bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột; N cầm ở lòng bàn tay phải rồi đi bộ quay về Nghĩa trang thôn Đỗ Hạ, xã Quang Vinh, huyện Ân Thi để sử dụng, lúc này vào khoảng 18 giờ 15 phút cùng ngày, khi N vừa đi vào Nghĩa trang thì bị Tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ân Thi và Công an xã Quang Vinh trên đường đi tuần tra an ninh trật tự thấy nghi vấn đã yêu cầu kiểm tra phát hiện tại lòng bàn tay phải N đang cầm 01 gói giấy nhỏ màu trắng kích thước (2 x 1,5)cm, bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột, N khai là Heroine vừa mua về để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N, vật chứng thu giữ 01 gói giấy màu trắng kích thước (2 x 1,5cm) bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột, niêm phong vào bì thư ký hiệu I.

Tại Kết luận giám định số số 200/MT - PC09 ngày 11/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu I, có khối lượng 0,160g (Không phẩy một sáu không gam) là ma túy, loại Heroine. Sau giám định hoàn lại 0,145g (Không phẩy một bốn năm gam) Heroine trong niêm phong ghi ký hiệu I, mẫu hoàn được niêm phong trong bì thư số 200/MT – PC09 giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ân Thi quản lý.

Quá trình điều tra bị cáo Lê Văn N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời khai nhận của N phù hợp với lời khai những người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 30 ngày 29 tháng 07 năm 2020 của VKS huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Lê Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.

Đại diện VKS giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX:

- Về tội danh: Tuyên xử Lê Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Xử phạt bị cáo Lê Văn N từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 08/6/2020.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tich thu cho tiêu huỷ 01 niêm phong ghi mẫu vật gửi giám định hoàn lại số 200/MT-PC09 của Phòng kỹ thuật công an tỉnh Hưng Yên bên trong có 0,145 gam Heroine.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định./.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được

thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và các cơ quan tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên, Cơ quan điều tra công an huyện Ân Thi; Kiểm sát viên, VKSND huyện Ân Thi đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự , thủ tục tố tụng theo quy định của BLTTHS. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn N đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi đã truy tố: Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 08/6/2020 tại khu vực nghĩa trang thôn Đỗ Thượng, xã Quang Vinh, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên bị cáo đã có hành vi cất giấu trái phép trong người 01 gói chất bột màu trắng nghi là Heroine mục đích mua về để sử dụng. Theo kết luận giám định số 200/MT-PC09 ngày 11/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo là ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,160g.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với bản tự khai, biên bản lấy lời khai của bị cáo, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ do Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Ân Thi đã thu thập được.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hµnh vi cña bÞ c¸o lµ nguy hiÓm cho x· héi x©m ph¹m ®Õn chÝnh s¸ch ®éc quyÒn cña Nhµ n íc ta trong viÖc qu¶n lý mét sè mÆt hµng cÊm. BÞ c¸o là người có năng lực trách nhiệm hình sự nên cã ®ñ nhËn thøc ®Ó biÕt r»ng c¸c chÊt ma tuý nãi chung vµ Heroine nãi riªng lµ mÆt hµng Nhµ n íc cÊm mua b¸n l u th«ng trªn thÞ tr êng, nh ng do coi th êng ph¸p luËt bị cáo đã cè ý thùc hiÖn hµnh vi ph¹m téi nh»m tho¶ m·n nhu cÇu cña b¶n th©n. HiÖn nay tÖ n¹n ma tuý ®ang lµ hiÓm ho¹ cña toµn x· héi, g©y t¸c h¹i rÊt lín ®Õn søc khoÎ, huû ho¹i phÈm gi¸ con người, ph¸ ho¹i h¹nh phóc gia ®×nh vµ lµ mÇm mèng cña rÊt nhiÒu lo¹i téi ph¹m kh¸c, ¶nh h ëng ®Õn t×nh h×nh trËt tù, an toµn x· héi. V× vËy viÖc ® a bÞ c¸o ra xÐt xö nghiªm minh, kÞp thêi tr íc ph¸p luËt lµ cÇn thiÕt nh»m mục ®Ých trõng trÞ gi¸o dông ng êi ph¹m téi vµ gãp phÇn vµo viÖc ®Êu tranh phßng chèng téi ph¹m chung.

Tõ nh÷ng ph©n tÝch vµ nhËn ®Þnh nªu trªn HĐXX có đủ cơ sở kết luận : Bị cáo Lê Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự .

Như vậy, VKSND huyện Ân Thi đã truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt ngoài việc đánh giá tính chất mức độ của hành vi phạm tội, HĐXX còn cân nhắc xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có bố đẻ là ông Lê Văn Lãm là thương binh và được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

VÒ nhân thân: Bị cáo có nhân thân rất xấu: Năm 2003 bị UBND tỉnh Hưng Yên quyết định áp dụng biện pháp dduwa vào cơ sở giáo dục trong thời hạn 24 tháng; Tháng 10 năm 2005 bị công an thị trấn Ân Thi xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản; Tháng 11/2005 bị công an thị xã Hưng Yên (Nay là thành phố Hưng Yên) xử phạt về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy; Nam 2006 bị TAND huyện Ân Thi xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; năm 2008 bị TAND thị xã Hưng Yên (Nay là thành phố Hưng Yên) xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Năm 2010 bị TAND huyện Ân Thi xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Năm 2012 bị TAND huyện Ân Thi xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản; Năm 2017 bị TAND huyện Ân Thi xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Bị có không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục lấn sâu vào con đường phạm tôi, điều đó thể hiện bị cáo không có ý thức hoàn lương, không chấp hành pháp luật. Do vậy, tại lần phạm tội này cần thiết áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần thiết phải bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo tu dưỡng, rèn luyện trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét về hoàn cảnh kinh tế cũng như việc bị cáo không có việc làm ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền là đối với bị cáo.

Về vật chứng: Số Heroine hoàn lại sau giám định có khối lượng 0,145 gam là mặt hàng cấm nên tịch thu cho tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn N phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn N 02 năm 06 tháng tù thời gian tính từ ngày 08/6/2020.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng:

Tịch thu cho tiêu hủy một niêm phong ghi hoàn mẫu giám định số 200/MP-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Hưng Yên bên trong có chứa 0,145 g Heroine

(Có đặc điểm như quyết định chuyển vật chứng ngày 30/7/2020 của VKSND huyện Ân Thi)

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ