vanban.org

Bản án 35/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Tân Châu, tỉnh An Giang Tuyên án 23/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Di T (BT) phạm tội “Đánh bạc”;

Xử phạt: Nguyễn Di T (BT): 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách của bị cáo 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án 23/7/2020 (ngày hai mươi ba, tháng bảy, năm hai nghìn không trăm hai mươi). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Di T - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Di T (BT) phạm tội “Đánh bạc”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 35/2020/HS-ST
Ngày: 23/7/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Thi Thị Tuyết Nhung;

2. Ông Nguyễn Văn Cư.

Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Hữu Lợi – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Cù Ngọc Sang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/TLST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2020/QĐXXST-HS ngày 08/7/2020, đối với bị cáo:

Nguyễn Di T (BT), sinh ngày 01/10/1994; nơi sinh: TC – AG; Nơi cư trú (ĐKHKTT): Ấp HT, xã CP, thị xã TC, tỉnh AG; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo Phật giáo Hòa Hảo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1962 và bà Ngô Thị M, sinh năm 1965; Chưa có vợ, con.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 17/02/2020, bị Công an xã PH, huyện PT, tỉnh AG, xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng, về hành vi đánh bạc (đã thực hiện xong quyết định xử phạt ngày 24/3/2020).

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Anh Nguyễn Hoài Th (L), sinh năm 1990; Địa chỉ: Ấp HT, xã CP, thị xã TC, tỉnh AG, vắng mặt;

- Em Nguyễn Anh T (B), sinh ngày 26/02/2003; Địa chỉ: Ấp HL, xã CP, thị xã TC, tỉnh AG, vắng mặt;

Người giám hộ cho T: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1991 (cậu ruột), vắng mặt.

Người làm chứng: Nguyễn Thị L, vắng mặt;

Người chứng kiến: Nguyễn Văn U, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 17/02/2020, Nguyễn Di T đã bị Công an xã PH, huyện PT, tỉnh AG xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc. Vào khoảng 12 giờ ngày 30/4/2020, Nguyễn Di T từ nhà đi bộ đến bãi đất trống thuộc khu vực ấp HT, xã CP, thị xã TC, tỉnh AG để chơi tài, xỉu thắng thua bằng tiền. Tại đây, T thấy Thg (không biết rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) đang làm nhà cái lắc tài, xỉu và có khoảng 06 người đang đặt cược, do không có người làm vĩ, nên T xin làm vĩ cho Thg, Thg đồng ý, rồi Thg làm nhà cái lắc tài, xỉu T làm vĩ để thắng thua bằng tiền với những người đang đặt cược. Khoảng 01 giờ sau, Thg đi vệ sinh nên Thg kêu T làm nhà cái lắc tài, xỉu do không có người làm vĩ, nên T kêu K (không biết rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) làm vĩ, đồng ý. Đến khoảng 14 giờ 10 phút cùng ngày, Nguyễn Hoài Th đến tham gia đặt cược, mỗi lần đặt cược nhiều nhất là 100.000 đồng, ít nhất là 10.000 đồng, Hoài Th tham gia đặt cược được 03 ván và thua hết 70.000 đồng.

Hình thức chơi như sau: Để 03 (hột) xí ngầu trong chén xứ đậy nắp lại lắc chén, người chơi đặt số tiền lên bao nilon màu vàng có phân biệt bên Tài bên Xỉu và có chữ số 1, 2, 3, 4, 5, 6. Khi mở nắp đếm số tổng cộng trên 03 hột xí ngầu có số nút từ 11 đến 17 là tài, từ 4 đến 10 là xỉu, 03 số (03 mặt) xí ngầu giống nhau gọi là bảo. Nếu mở nắp ra tài, người chơi đặt tài thì 01 trúng 01, xỉu người chơi đặt xỉu thì 01 trúng 01, người chơi đặt số (đặt mặt) 1, 2, 3, 4, 5, 6 có bao nhiêu mặt số tương ứng thì thắng số tiền lên tương ứng gấp 02 hoặc gấp 03…. Số tiền chơi mỗi ván (tiền nền) đặt lớn nhất khoảng 100.000 (một trăm ngàn) đồng nhỏ nhất là 10.000 (mười ngàn) đồng. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc Di T, Kiệt, Hoài Th và những người khác đang tham gia đặt cược tài xỉu, thắng thua bằng tiền, Công an xã CP, thị xã TC đến và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Di T và Hoài Th về hành vi “Đánh bạc”. Riêng những người tham gia đánh bạc cùng với Di T và Hoài Th, đã bỏ chạy.

* Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:

- 01 (một) cái chén bằng sứ, màu trắng;

- 01 (một) nắp đậy, bằng nhựa, màu đỏ;

- 03 (ba) hột xí ngầu;

- 01 (một) bao nilon, màu vàng, trên bao có chữ Tài, chữ Xỉu;

(Tất cả đã qua sử dụng).

- Tiền Việt Nam: 1.450.000 đồng (thu giữ trên chiếu bạc).

Ngày 04/6/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã TC đã khởi tố Nguyễn Di T về tội “Đánh bạc”.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nguyễn Hoài Th; người chứng kiến Nguyễn Văn U, có lời khai phù hợp với nội dung vụ án nêu trên.

Riêng em Nguyễn Anh T khai, vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 30/4/2020, T đến khu vực ấp HT, xã CP, thi xã TC, tỉnh AG để rủ bạn đi câu cá, trong lúc ngồi đợi bạn, có người nam (không biết rõ họ tên, địa chỉ) kêu T ngồi cảnh giới (canh Công an) nếu gặp Công an đến thì la lên cho mấy người chơi tài xỉu biết đến chiều cho tiền T, T nói chỉ ngồi một lát khi nào bạn T đến thì T đi. T ngồi canh được khoảng 05 đến 10 phút thì nơi chơi tài xỉu bị bắt và T bị mời về trụ sở Công an xã CP làm việc.

Bà Nguyễn Thị L khai, bà Lan ở cùng xóm với Di T, Hoài Th và bà L cùng Di T, Hoài Th không có mâu thuẫn gì với nhau. Từ trước đến nay, bà L không chơi lắc tài xỉu ăn thua bằng tiền. Ngày 30/4/2020, bà L không tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền với Di T và Hoài Th.

Tại Cáo trạng số 40/CT-VKSTC ngày 22 tháng 6 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã TC, tỉnh AG đã truy tố bị cáo Nguyễn Di T (BT) về tội “Đánh bạc” theo quy định khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận, ngày 30/4/2020, bị cáo có tham gia chơi lắc tài xỉu ăn thua bằng tiền với Hoài Th, Kcùng một số người khác và bị lực lượng Công an xã CP bắt quả tang cùng vật chứng thu giữ đúng như lời khai trong quá trình điều tra và nội dung cáo trạng thể hiện.

Chủ tọa công bố lời khai của những người tham gia tố tụng vắng mặt; Biên bản xác minh ngày 03/6/2020 về nhân thân, lai lịch, điều kiện kinh tế của bị cáo Nguyễn Di T,... Bị cáo không có ý kiến.

Kiểm sát viên trình bày lời luận tội:

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa tham gia đánh bạc trái phép dưới hình thức lắc tài xỉu ăn thua bằng tiền ngày 30/4/2020 là phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cũng như vật chứng được thu giữ cùng các tài liệu, nguồn chứng cứ khác được cơ quan điều tra thu thập và được thẩm tra tại phiên tòa. Bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, chưa được xóa tiền sự, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức lắc tài xỉu ăn thua bằng tiền, bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc đánh bạc là vi phạm pháp luật, là tệ nạn xã hội ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng tại địa phương nhưng vẫn cố ý thực hiện. Từ đó, có cơ sở xác định hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ Luật Hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt chính, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Di T: Từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng.

Về hình phạt bổ sung, bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy: 01 cái chén bằng sứ, màu trắng; 01 nắp đậy, bằng nhựa, màu đỏ; 03 hột xí ngầu; 01 bao nilon, màu vàng, trên bao có chữ Tài, chữ Xỉu (đã qua sử dụng).

Tịch thu sung quỹ nhà nước: 1.450.000 đồng (thu giữ chiếu bạc khi bắt quả tang).

Đối với Nguyễn Hoài Th, đã có hành vi “Đánh bạc”. Đây là hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an thị xã TC, đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hoài Th.

Đối với người tên Thg và K, đã cùng với Nguyễn Di T đánh bạc. Do không rõ, họ tên và địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thị xã TC, chưa làm việc được. Khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Riêng những người đã tham gia đánh bạc cùng với Nguyễn Hoài Th. Do không rõ, họ tên và địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thị xã TC, chưa làm việc được. Khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đồng ý theo Quyết định truy tố và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến khác.

Bị cáo nói lời sau cùng, xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị cáo Nguyễn Di T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã TC khởi tố về tội “Đánh bạc” bị bắt quả tang tại khu vực ấp HT, xã CP thị xã TC nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã TC, tỉnh AG.

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã TC, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã TC, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại nên về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Sự vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Hoài Th, em T; Người làm chứng bà L và người chứng kiến ông U đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định vẫn tiến hành xét xử.

Về nội dung:

Hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc (lắc tài xỉu) ăn thua bằng tiền. Hành vi của bị cáo được xác định như sau:

Vào khoảng 12 giờ ngày 30/4/2020, bị cáo T từ nhà đi bộ đến bãi đất trống thuộc khu vực ấp HT, xã CP, thị xã TC, tỉnh AG để chơi tài, xỉu thắng thua bằng tiền. Tại đây, bị cáo T thấy Thg (không biết rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) đang làm nhà cái lắc tài, xỉu và có khoảng 06 người đang đặt cược, do không có người làm vĩ, nên bị cáo T xin làm vĩ cho Thg, Thg đồng ý, rồi Thg làm nhà cái lắc tài, xỉu bị cáo T làm vĩ để thắng thua bằng tiền với những người đang đặt cược. Khoảng 01 giờ sau, Thg đi vệ sinh nên Thg kêu bị cáo T làm nhà cái lắc tài xỉu, do không có người làm vĩ, nên bị cáo T kêu K (không biết rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) làm vĩ, K đồng ý. Đến khoảng 14 giờ 10 phút cùng ngày, Nguyễn Hoài Th đến tham gia đặt cược, mỗi lần đặt cược nhiều nhất là 100.000 đồng, ít nhất là 10.000 đồng, Hoài Th tham gia đặt cược được 03 ván và thua hết 70.000 đồng.

Hình thức chơi như sau: Để 03 (hột) xí ngầu trong chén xứ đậy nắp lại lắc chén, người chơi đặt số tiền lên bao nilon màu vàng có phân biệt bên Tài bên Xỉu và có chữ số 1, 2, 3, 4, 5, 6. Khi mở nắp đếm số tổng cộng trên 03 hột xí ngầu có số nút từ 11 đến 17 là tài, từ 4 đến 10 là xỉu, 03 số (03 mặt) xí ngầu giống nhau gọi là bảo. Nếu mở nắp ra tài, người chơi đặt tài thì 01 trúng 01, xỉu người chơi đặt xỉu thì 01 trúng 01, người chơi đặt số (đặt mặt) 1, 2, 3, 4, 5, 6 có bao nhiêu mặt số tương ứng thì thắng số tiền lên tương ứng gấp 02 hoặc gấp 03... Số tiền chơi mỗi ván (tiền nền) đặt lớn nhất khoảng 100.000 (một trăm ngàn) đồng nhỏ nhất là 10.000 (mười ngàn) đồng. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc bị cáo T, K, Hoài Th và những người khác đang tham gia đặt cược tài xỉu, thắng thua bằng tiền, Công an xã CP, thị xã TC đến và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Di T và Hoài Th về hành vi “Đánh bạc”.

Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người chứng kiến được cơ quan điều tra thu thập và thẩm tra tại phiên tòa là phù hợp nhau về thời gian, địa điểm, cách thức đánh bạc cũng như số tiền mà bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc. Ngoài ra, diễn biến, nội dung của vụ án và hành vi mà bị cáo đã thực hiện còn phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 30/4/2020 do Công an xã CP lập, cùng vật chứng vụ án được thu giữ và các tài liệu, chứng cứ liên quan khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ các căn cứ trên có cơ sở xác định, bị cáo đã đánh bạc trái phép dưới hình thức lắc tài xỉu ăn thua bằng tiền. Bị cáo T đã bị đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chưa được xóa tiền sự theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nhưng bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức lắc tài xỉu ăn thua bằng tiền nên thỏa mãn mặt khách quan tội “Đánh bạc”.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có sức khỏe tốt nhưng vì lòng tham, muốn có tiền nhanh chóng, không phải hao tốn sức lao động, bị cáo đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.

Đánh bạc, trong đó có hình thức lắc tài xỉu ăn thua bằng tiền, là tệ nạn xã hội gây ra nhiều hệ lụy cho gia đình và xã hội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến an toàn trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến cuộc sống gia đình, công việc của cá nhân và hoạt động bình thường của địa bàn nơi các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ Luật Hình sự.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã TC truy tố bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã TC tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, phù hợp với quy định của pháp luật.

Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, trình độ học vấn thấp nhận thức pháp luật hạn chế là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hình phạt:

Về hình phạt chính:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Có hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án; Ngày 25/6/2018, bị cáo T bị Công an xã CP, thị xã TC xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng, về hành vi đánh bạc (lắc tài xỉu) (đã thực hiện xong quyết định xử phạt ngày 04/7/2018, đã được xóa tiền sự ngày 05/7/2019); Ngày 17/02/2020, bị cáo T bị Công an xã PH, huyện PT, tỉnh AG, xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc (đã thực hiện xong quyết định xử phạt ngày 24/3/2020, chưa được xóa tiền sự) đến ngày 30/4/2020 bị cáo T tiếp tục thực hiện hành vi “Đánh bạc”, thời gian bị cáo T được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, đến ngày bị cáo T phạm tội ngày 30/4/2020 đã quá 06 (sáu) tháng. Xét, không nhất thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội, có thể để bị cáo tự lao động dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe. Cho bị cáo hưởng án treo.

Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã CP, thị xã TC trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng Hình sự hủy bỏ lệnh cấm khỏi nơi cư trú số: 13 ngày 04/6/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã TC đối với bị cáo Di T.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thuộc thành phần lao động nghèo, gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng:

- Ngoài lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án về số tiền đánh bạc tham gia đánh bạc là 1.450.000 (một triệu bốn trăm năm mươi ngàn) đồng (thu giữ trên chiếu bạc), không còn nguồn chứng cứ nào khác để xác định số tiền tham gia đánh bạc nên chấp nhận số tiền đánh bạc là 1.450.000 đồng, xét buộc tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy dụng cụ bị cáo T tham gia đánh bạc: 01 cái chén bằng sứ, màu trắng; 01 nắp đậy, bằng nhựa, màu đỏ; 03 hột xí ngầu; 01 bao nilon, màu vàng, trên bao có chữ Tài, chữ Xỉu (đã qua sử dụng) theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Điều tra - Công an thị xã TC với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã TC 24/6/2020).

Những vấn đề khác:

Đối với Nguyễn Hoài Th, đã có hành vi “Đánh bạc”. Đây là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an thị xã TC, đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hoài Th là phù hợp quy định của pháp luật.

Đối với người tên Thg, K và những người đã tham gia đánh bạc cùng với bị cáo T đánh bạc. Do không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thị xã TC chưa làm việc được. Khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là có căn cứ.

Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Di T (BT) phạm tội “Đánh bạc”;

Xử phạt: Nguyễn Di T (BT): 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo.

Thời hạn thử thách của bị cáo 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án 23/7/2020 (ngày hai mươi ba, tháng bảy, năm hai nghìn không trăm hai mươi).

Giao bị cáo Nguyễn Di T cho Ủy ban nhân dân xã CP, thị xã TC giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã CP, thị xã TC trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng Hình sự hủy bỏ lệnh cấm khỏi nơi cư trú số: 13 ngày 04/6/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã TC đối với bị cáo Di T.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước: Tiền đánh bạc 1.450.000 (một triệu bốn trăm năm mươi ngàn) đồng;

(Theo biên Biên lai thu tiền số AA/2017/0002109 ngày 24/6/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã TC, tỉnh AG).

- Tịch thu tiêu hủy: 01 cái chén bằng sứ, màu trắng; 01 nắp đậy, bằng nhựa, màu đỏ; 03 hột xí ngầu; 01 bao nilon, màu vàng, trên bao có chữ Tài, chữ Xỉu (đã qua sử dụng).

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Điều tra - Công an thị xã TC với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã TC ngày 24/6/2020).

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 333, Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Di T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh AG xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được tính là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ