vanban.org

Bản án 35/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 04/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ lu t hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 01 (một) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo được t nh t ngày 25-01-2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Xet xu bi cao tang tru ma tuy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn c điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ lu t hình sự.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CL
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2020/HS-ST
Ngày: 04-6-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CL, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Hải;

Ông Nguyễn Văn Vệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố CL tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn– Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 44/2020/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2020/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn V. Sh ngày: 17/11/2001; Tên gọi khác: Không; Hộ khẩu thường trú: T O, khóm P, phường HT, thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp; Chỗ ở hiện nay: Khóm E, Phường D, thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp; Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: V Nam. Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 1/12; Nghề nghiệp: Không; Cha tên: Nguyễn Văn D, mẹ tên Lê Thị Vn. Bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con th hai trong gia đình; Chưa có vợ; Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân:

- Ngày 05/3/2018, bị Công an phường HT, thành phố CL xử phạt vi phạm hành ch nh 375.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 05/3/2018.

- Ngày 14/8/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố CL, xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm c p tài sản”, chấp hành xong ngày 30/6/2019. Do V phạm tội t nghiêm trọng và khi phạm tội chưa đủ 18 tu i nên được coi là không có án t ch.

Tạm giữ ngày 25/01/2020; Tạm giam ngày 03/02/2020. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp.

* Người bào chửa cho bị cáo Nguyễn Văn V là trợ giúp viên pháp lý bà Lê Hồng Dm - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Vào khoảng 12 giờ, ngày 25-01-2020, Trần Hữu Th Sh ngày 02-6-2004, ngụ số E, ấp KB, xã TK, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, điện thoại rủ Nguyễn Văn V đến cơ sở internet Hải V thuộc phường Q, thành phố CL để chơi game online, V đồng ý. V điều khiển xe mô tô biển số 66P1 – 855.49 đến g p Th. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên V nhờ Th mua dùm một bịch ma túy giá 200.000 đồng, do V không có tiền, không biết chỗ bán ma túy, Th đồng ý. Sau đó, Th điện thoại cho người tên S không r họ tên và địa chỉ h i mua 200.000 đồng ma túy, nhưng trả trước 100.000 đồng, nợ lại 100.000 đồng, S đồng ý, hẹn địa điểm giao dịch tại dốc cầu thuộc x T, thành phố CL. V điều khiển xe mô tô trên chở Th chỉ đường đến điểm giao dịch. Đến điểm hẹn, S đưa cho V một bịch ma túy giá 200.000 đồng. Th đưa cho S 100.000 đồng, thiếu lại 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, V chở Th đi cầu CL chơi, khi đến khu vực v ng người, V d ng xe và lấy bịch ma túy v a mua chiết ra một t vào ống hút nhựa rồi dùng b t lửa hàn k n, để sử dụng nhiều lần. Sau khi chiết ma túy, V tiếp tục chở Th, khi đến T H, Khóm E, Phường F, thành phố CL, Đồng Tháp thì bị Công an kiểm tra thu giữ của V:

- Túi quần ph a trước bên phải có: 01 bịch nylon màu tr ng được hàn k n, bên trong có ch a nhiều tinh thể r n màu tr ng; 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu tr ng được hàn k n hai đầu, bên trong có ch a nhiều tinh thể r n màu tr ng Niêm phong ký hiệu A1 V khai đây là ma túy đá của V v a mua với giá 200.000 đồng; 01 b t lửa dùng gas.

- Túi quần ph a trước bên trái có: 01 điện thoại di động, nh n hiệu V VO, màu hồng, bị cong và v màn hình.

- Túi quần ph a sau bên trái có: 01 cây kéo bằng kim loại, màu tr ng.

- Túi quần ph a sau bên phải có: 200.000 đồng.

- 01 xe mô tô kiểu dáng Wave biển số 66P1 – 855.49.

Tại Kết lu n giám định số 85/KL-KTHS, ngày 27-01-2020 của Phòng kỹ thu t hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp, kết lu n: Tinh thể r n ch a trong 01 bịch nylon màu tr ng được hàn k n và 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu tr ng hàn k n được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu A1 gửi giám định đều là chất ma túy, có t ng khối lượng 0,134 gam, loại Methamphetamine. Mẫu tinh thể r n còn lại sau giám định có t ng khối lượng 0,085 gam, được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu số 87 ngày 25/01/2020 có đóng dấu tròn đ của Phòng Kỹ thu t hình sự – Công an tỉnh Đồng Tháp, hoàn lại cơ quan điều tra để tiếp tục xử lý.

Xác định tình trạng nghiện ma túy của Nguyễn Văn V thể hiện: Có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng Methamphetamine.

Ngày 22/4/2020, Cơ quan điều tra trả lại cho V 200.000 đồng, 01 điện thoại V VO, màu hồng là tài sản của V, không liên quan đến việc phạm tội.

Đối với xe mô tô biển số 66P1-855.49 do Trần V Đ, Sh năm 2000, ngụ p W, x N, thành phố CL, đ ng tên chủ sở hữu. Anh Đ đ bán xe trên cho V nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 22/4/2020, Cơ quan điều tra trả lại xe cho V do không liên quan đến việc phạm tội.

Quá trình điều tra, V th a nh n toàn bộ hành vi của mình như đ nêu trên phù hợp với biên bản b t người phạm tội quả tang, v t ch ng thu giữ, kết lu n giám định kỹ thu t hình sự, biên bản kiểm tra tình trạng nghiện của V, lời khai người làm ch ng và các ch ng c khác thu th p được có trong hồ sơ.

Tại cáo trạng số 36/CT-VKSND-TPCL ngày 13-5-2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố CL truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ lu t hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân nhân thành phố CL giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như cáo trạng đ nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ lu t hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V với m c án t 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Bị cáo có s hộ nghèo, không có thu nh p n định nên không áp dụng hình phạt b sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý v t ch ng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bản cáo trạng đ nêu.

Tại phiên tòa bị cáo th a nh n hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Trợ giúp viên trợ giúp pháp lý cho bị cáo Nguyễn Văn V: Thống nhất với tội danh và m c hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ đến m c thấp nhất cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định như sau:

T nh hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ lu t tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện phù hợp pháp lu t.

Những ch ng c xác định có tội, cấu thành tội phạm và điều lu t áp dụng:

Đây là vụ án “Tàng trữ trái phép chất ma túy” do Nguyễn Văn V thực hiện. Lúc 15 giờ 00 phút ngày 25-01-2020, tại đoạn đường thuộc t H, Khóm E, Phường F, thành phố CL, Nguyễn Văn V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, có trọng lượng 0,134 gam, loại Methamphetamine chưa kịp sử dụng thì bị l p biên bản b t người phạm tội quả tang cùng tang v t.

Lời khai nh n của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với ch ng c thu th p có trong hồ sơ vụ án.

Trong phần tranh lu n tại phiên tòa, lời lu n tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa cho rằng bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là hoàn toàn có căn c nên chấp nh n. Bị cáo th a nh n lời lu n tội của Kiểm sát viên là đúng người, đúng tội, đúng với t nh chất, m c độ và hành vi của bị cáo gây ra.

Bị cáo đủ tu i chịu trách nhiệm hình sự và biết r hành vi của mình là vi phạm pháp lu t nhưng vẫn thực hiện ch ng t việc phạm tội của bị cáo là cố ý và tội phạm đ hoàn thành.

Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết lu n bị cáo đ phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ lu t Hình sự 2015

Tại Điều 249 Bộ lu t Hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)...

c) ..., Methemphetamine,... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

2…

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho x hội vì đ xâm phạm đến việc độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình tr t tự trị an ở địa phương. Do đó, cần phải áp dụng cho bị cáo một m c hình phạt tương x ng với hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra kh i đời sống x hội một thời gian nhất định để có thời gian học t p, cải tạo, trở thành người tốt có ch cho gia đình và x hội sau này. Đồng thời, cũng để răn đe, giáo dục và phòng ng a chung.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Gia đình bị cáo có s hộ nghèo. Đây là tình tiết được quy định theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ lu t Hình sự.

Về tình tiết tăng n ng: không có.

Bị cáo thuộc diện hộ nghèo và không có thu nh p n định nên không áp dụng hình phạt b sung bằng tiền đối với các bị cáo.

Về đề nghị của Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng khác:

- Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị tội danh, điều lu t áp dụng, các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ cũng như hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.

- Trợ giúp viên trợ giúp pháp lý cho bị cáo Nguyễn Văn V: Thống nhất với tội danh và m c hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ đến m c thấp nhất cho bị cáo. Xét thấy là phù hợp nên chấp nh n.

Các vấn đề khác:

Đối với Trần Hữu Th biết V mua ma túy để sử dụng nhưng vẫn cho V mượn tiền, trực tiếp điện thoại mua ma túy và chỉ địa điểm để V thực hiện hành vi mua tàng trữ trái phép chất ma túy vào ngày 25/01/2020. Th sinh ngày 02/6/2004 t nh đến thời điểm phạm tội Th được 15 tu i 7 tháng 23 ngày nên Th chưa đủ tu i chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ lu t Hình sự. Ngày 11/3/2020, Th bị Tòa án nhân dân huyện L, Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành ch nh đưa vào Trường giáo dư ng, thời hạn 02 năm, về hành vi trộm c p tài sản.

Đối với người tên S là người bán ma túy cho V, do không r nhân thân nên chưa làm việc được, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào có cơ sở sẽ xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự, xử lý v t ch ng:

Đối với các v t ch ng liên quan đến vụ án không có giá trị và cấm sử dụng thì tịch thu tiêu hủy như sau: 01 b t lửa gas; 01 cây kéo bằng kim loại, màu tr ng; Khối lượng 0,085 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu số 87 ngày 25/01/2020 có đóng dấu tròn đ của Phòng Kỹ thu t hình sự – Công an tỉnh Đồng Tháp.

Hiện các v t ch ng đang được Chi cục Thi hành án dân sự thành phố CL tạm quản lý

Về án ph : Bị cáo Nguyễn Văn V được miễn án ph hình sự do thuộc diện hộ nghèo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn c điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ lu t hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 01 (một) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo được t nh t ngày 25-01-2020.

Bị cáo thuộc diện hộ nghèo; không có thu nh p n định nên không áp dụng hình phạt b sung bằng tiền đối với bị cáo.

* Về xử lý v t ch ng: Căn c Điều 47 của Bộ lu t Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ lu t tố tụng hình sự:

Đối với các v t ch ng liên quan đến vụ án không có giá trị và cấm sử dụng thì tịch thu tiêu hủy như sau: 01 b t lửa gas; 01 cây kéo bằng kim loại, màu tr ng; Khối lượng 0,085 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu số 87 ngày 25/01/2020 có đóng dấu tròn đ của Phòng Kỹ thu t hình sự – Công an tỉnh Đồng Tháp.

Hi n các vật ch ng đang được Chi cục Thi hành án dân s thành phố CL tạm quản l )

* Về án ph : Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 về án ph của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Bị cáo Nguyễn Văn V được miễn tiền án ph hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ