- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn H u V phạm t i “Tàng tr trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? luật tố tụng hình sự tuyên; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2020/HS-ST Ngày: 16-9-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Út.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Duy Oanh.
Bà Quang Kim Cúc.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trung Vinh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Chúc Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2020, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2020/TLST-HS, ngày 28 tháng 8 năm 2020; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2020/QĐXXST-HS, ngày 31 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn H u V, sinh năm: 1985, tại Đồng Tháp; nơi cư trú: 12/2, ấp T P, xã P H, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm ru ng; trình đ học vấn: 9/12; dân t c: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn G và bà Trương Thị P; có vợ và 01 người con; tiền án, tiền sự: Không; tạm gi : Từ ngày 18/5/2020 đến ngày 28/5/2020; tạm giam: Từ ngày 28/5/2020 đến nay; Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm gi Công an huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người làm chứng:
1. Phạm Đồng Ngọc T - sinh năm: 1982 (vắng mặt); nơi cư trú: K 2, phường C V, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
2. Phạm Thị D - sinh năm: 1978 (vắng mặt); nơi cư trú: 115, ấp A N, xã A B, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
3. Dương Thị Bé S - sinh năm: 1982 (vắng mặt); nơi cư trú: ấp L K A, xã L H, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 18 giờ ngày 18/5/2020, Công an huyện Lai Vung phát hiện Nguyễn H u V điều khiển xe môtô biển số 64H1-101.81, màu xanh, đang chạy trên tuyến Quốc l 54 đoạn thu c ấp T L, xã T T, huyện Lai Vung có biểu hiện nghi vấn nên Công an huyện Lai Vung ra hiệu dừng xe để kiểm tra, thì phát hiện trên ba ga xe của Nguyễn H u V có 01 vỏ h p thuốc lá nhãn hiệu Jet, bên trong có 03 bịch nylon có chứa tinh thể rắn màu trắng, Công an huyện Lai Vung lập biên bản và thu gi tang vật, tài sản gồm: 03 bịch nylon được hàn kín hai đ u, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng được thu gi bên trong gói thuốc lá nhãn hiệu Jet, gói thuốc lá để trên ba ga xe của Nguyễn H u V, được niêm phong và ký hiệu 1; 01 vỏ h p thuốc lá nhãn hiệu Jet, được thu gi trên ba ga xe của Nguyễn H u V; số tiền 197.000 đồng, được thu gi trong túi qu n trước bên phải của Nguyễn H u V, do V sửa xe có được; 01 điện thoại di đ ng màu xám, mặt sau điện thoại có ch Sam Sung, số EMEI1 351709100156604/01, số IMEI2 351710100156602/01, đã qua sử dụng, được thu gi trong túi qu n trước bên trái của Nguyễn H u V; 01 xe mô tô biển số 64H1 - 101. 81, màu xanh, số máy LC152FMH 00036022, xe đã qua sử dụng.
Trong quá trình điều tra Nguyễn H u V khai: Khoảng 14 giờ ngày 18/5/2020, V điều khiển xe mô tô biển số 64H1-101.81 chạy đến c u T D thu c xã L H để đem xe của người tên D (chưa xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể) về sửa, do trước đó D có điện thoại cho V nói xe bị hư kêu V đem về sửa cho D. Khi đến c u T D, V điện thoại thì D chỉ đường cho V vào nhà trọ T V 2 để lấy xe. D dẫn V vào phòng trọ của nhà trọ T V 2 kêu V ở lại phòng chờ, D đi ra ngoài lấy xe. Tại phòng trọ V gặp C (chưa xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể) có ma túy, nên V hỏi mua 1.500.000 đồng ma túy với mục đích đem về sử dụng. V đưa cho C 1.100.000 đồng, còn 400.000 đồng V nói s trả cho D. Sau khi nhận tiền, C đưa 01 bịch ma túy và vỏ h p thuốc lá hiệu Jet cho V, V lấy bịch ma túy C vừa đưa để chung vào 02 bịch ma túy trong vỏ h p thuốc lá nhãn hiệu Jet. Sau đó, V đợi D thêm khoảng 30 phút nhưng không thấy D về, V c m vỏ h p thuốc lá nhãn hiệu Jet có chứa 03 bịch ma túy để lên ba ga xe của V rồi đi về, khi đến đoạn đường thu c ấp T L, xã T T thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang và thu gi các tang vật, tài sản nêu trên.
Ngày 19/6/2020, cơ quan điều tra Công an huyện Lai Vung đã có thông báo về việc tìm chủ sở h u hợp pháp của xe mô tô biển số 64H1 - 101.81, màu xanh, số máy LC152FMH00036022 đến nay chưa có người đến nhận xe.
Tại bản kết luận giám định số 422/KL-KTHS ngày 20/5/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận: Tinh thể rắn chứa trong 03 bịch nylon màu trắng hàn kín, được niêm phong trong bì thư ký hiệu 1 đều là chất ma túy, có tổng khối lượng 2,659 gram, loại Methamphetamine. Hoàn trả đối tượng gửi giám định: Mẫu tinh thể rắn trong bì thư ghi ký hiệu 1 còn lại sau giám định có khối lượng 2,358 gam.
Tại bản cáo trạng số 37/CT-VKS, ngày 27/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, đã truy tố Nguyễn H u V ra trước Toà án nhân dân huyện Lai Vung, để xét xử về t i “Tàng tr trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của B luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn H u V khai nhận toàn b hành vi đã thực hiện phù hợp với n i dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung truy tố bị cáo về t i “Tàng tr trái phép chất ma túy”. Bị cáo Nguyễn H u V yêu c u được nhận lại số tiền 197.000 đồng và 01 điện thoại di đ ng màu xám, mặt sau điện thoại có ch Sam Sung.
Đại diện Viện kiểm sát gi quyền công tố luận t i: Khẳng định việc truy tố đúng như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng t i, đúng pháp luật, Nguyễn H u V có hành vi tàng tr 03 bịch ma túy có tổng khối lượng 2,659 gam, loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng trong vỏ gói thuốc lá nhãn hiệu Jet được để trên ba ga xe mô tô biển số 64H1–101.81, thì bị Công an huyện Lai Vung kiểm tra bắt quả tang; khi thực hiện hành vi bị cáo có đ y đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên đề nghị H i đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của B luật hình sự; xử phạt Nguyễn H u V từ 02 năm đến 03 năm tù. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249 B luật hình sự, đề nghị H i đồng xét xử tuyên phạt bổ sung đối với bị cáo số tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Về xử lý vật chứng và tài sản thu gi : Căn cứ Điều 47 B luật hình sự và Điều 106 B luật tố tụng hình sự đề nghị H i đồng xét xử tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy: Tinh thể rắn trong bì thư ghi ký hiệu 1 còn lại sau giám định có khối lượng 2,358 gam; 01 vỏ h p thuốc lá nhãn hiệu Jet do đây là ma túy V tàng tr trái phép và vỏ h p thuốc lá không còn giá trị sử dụng;
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô biển số 64H1 – 101.81, màu xanh, số máy LC152FMH 00036022, xe đã qua sử dụng, vì đây là phương tiện V tàng tr ma túy và V tự lắp ráp để sử dụng, không có giấy đăng ký xe theo quy định;
- Trả lại cho Nguyễn H u V số tiền 197.000 đồng; 01 điện thoại di đ ng màu xám, mặt sau điện thoại có ch Sam Sung, số EMEI1 351709100156604/01, số IMEI2 351710100156602/01, đã qua sử dụng. Đây là các tài sản V không sử dụng để liên lạc hay mua bán, tàng tr trái phép chất ma túy. Nhưng giao Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
(Hiện vật chứng và số tiền trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý).
Đối với người tên C cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, điều tra về hành vi bán trái phép chất ma túy, khi làm rõ được s xem xét xử lý sau.
Bị cáo Nguyễn H u V thống nhất với Bản cáo trạng và luận t i của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, không tranh luận gì. Bị cáo nói lời nói sau cùng xin H i đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên của huyện Lai Vung trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục của B luật tố tụng hình sự quy định. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, nh ng người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Bị cáo Nguyễn H u V có hành vi tàng tr 03 bịch ma túy có tổng khối lượng 2,659 gam, loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng trong vỏ gói thuốc lá nhãn hiệu Jet được để trên ba ga xe mô tô biển số 64H1–101.81, thì bị Công an huyện Lai Vung kiểm tra bắt quả tang. Lời nhận t i của bị cáo là phù hợp với hiện trường vụ án, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó lời nhận t i của bị cáo là có căn cứ, bị cáo thực hiện t i phạm với lỗi cố ý, khi thực hiện hành vi phạm t i bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đ y đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, cho nên hành vi của bị cáo Nguyễn H u V có đ y đủ các yếu tố cấu thành t i “Tàng tr trái phép chất ma túy” phạm vào điểm c khoản 1 Điều 249 của B luật hình sự.
Tại điểm c khoản 1 Điều 249 B luật hình quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
… … … …
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
… … … …”
Về tính chất, mức đ t i phạm: Hành vi phạm t i của bị cáo Nguyễn H u V là nguy hiểm cho xã h i, xâm phạm đến chế đ quản lý các chất ma túy, gây khó khăn cho việc kiểm soát chất ma túy của Nhà nước, qua đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công c ng, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh bình thường của con người. Đồng thời là nguyên nhân phát sinh nh ng t i phạm khác, tạo nên gánh nặng cho xã h i, gây tha hóa biến chất m t b phận không nhỏ trong nhân dân đặc biệt là t ng lớp thanh thiếu niên, vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử công khai như ngày hôm nay là c n thiết, ngoài ra c n phải áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo để thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.
Tính chất vụ án là nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, bị cáo xem thường pháp luật. Vì vậy c n phải có m t mức hình phạt nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho nh ng ai có tư tưởng như bị cáo.
Đối với người tên C chưa xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, điều tra về hành vi bán trái phép chất ma túy, khi làm rõ được s xem xét xử lý sau.
Đối với nh ng người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, nhưng qua các lời khai có trong hồ sơ đều phù hợp và đúng như n i dung vụ án.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn H u V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 B luật hình sự.
Kiểm sát viên đề nghị giải quyết n i dung vụ án này là đúng quy định pháp luật, H i đồng xét xử đồng ý quan điểm của Kiểm sát viên.
Về xử lý vật chứng và tài sản thu gi :
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì bằng giấy, màu trắng đã được niêm phong, có ch ký của Nguyễn H u V và đóng dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp ở ph n giáp lai phong bì, ký hiệu 1 chứa bên trong tinh thể rắn còn sót lại sau giám định, khối lượng 2,358 gam; 01 phong bì bằng giấy, màu trắng đã được niêm phong, có ch ký của Nguyễn H u V, Điều tra viên Nguyễn Tấn Đ và đóng dấu tròn của Công an xã T T, huyện Lai Vung ở ph n giáp lai phong bì. Bên trong có chứa 01 vỏ h p thuốc lá, nhãn hiệu Jet.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô tự lắp ráp phụ tùng, không có giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số 64H1 – 101.81, số máy: LC152FMH 00036022, không có số khung, nhãn hiệu HOND , màu xanh, loại xe hai bánh, không rõ số loại, dung tích 108CC, xe không có gương chiếu hậu và không có dàn áo nhựa ph n thân và đuôi xe, vì đây là phương tiện V tàng tr ma túy và V tự lắp ráp để sử dụng, không có giấy đăng ký xe theo quy định.
- Trả lại cho Nguyễn H u V số tiền 197.000 đồng (m t trăm chín mươi bảy nghìn đồng) trong 01 phong bì bằng giấy, màu trắng đã được niêm phong, có ch ký của Nguyễn H u V, Điều tra viên Nguyễn Tấn Đ và đóng dấu tròn của Công an xã T T, huyện Lai Vung ở ph n giáp lai phong bì; 01 điện thoại di đ ng màn hình cảm ứng, nhãn hiệu S MSUNG, màu xám, số EMEI 1: 351709100156604/01, số IMEI 2: 351710100156602/01, ốp lưng màu đen, đã qua sử dụng. Đây là các tài sản V không sử dụng vào việc phạm t i. Nhưng giao Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
(Hiện vật chứng và số tiền trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý).
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của B luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn H u V phạm t i “Tàng tr trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn H u V 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/5/2020.
Căn cứ vào khoản 5 Điều 249 của B luật hình sự.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn H u V 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng).
2. Về xử lý vật chứng và tài sản thu gi : Căn cứ Điều 47 của B luật hình sự và Điều 106 B luật tố tụng hình sự tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (m t) phong bì bằng giấy, màu trắng đã được niêm phong, có ch ký của Nguyễn H u V và đóng dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp ở ph n giáp lai phong bì, ký hiệu 1 chứa bên trong tinh thể rắn còn sót lại sau giám định, khối lượng 2,358 gam; 01 (m t) phong bì bằng giấy, màu trắng đã được niêm phong, có ch ký của Nguyễn H u V, Điều tra viên Nguyễn Tấn Đ và đóng dấu tròn của Công an xã T T, huyện Lai Vung ở ph n giáp lai phong bì. Bên trong có chứa 01 (m t) vỏ h p thuốc lá, nhãn hiệu Jet.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (m t) xe mô tô tự lắp ráp phụ tùng, không có giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số 64H1 – 101.81, số máy: LC152FMH 00036022, không có số khung, nhãn hiệu HOND , màu xanh, loại xe hai bánh, không rõ số loại, dung tích 108CC, xe không có gương chiếu hậu và không có dàn áo nhựa ph n thân và đuôi xe.
- Trả lại cho Nguyễn H u V số tiền 197.000 đồng (m t trăm chín mươi bảy nghìn đồng) trong 01 (m t) phong bì bằng giấy, màu trắng đã được niêm phong, có ch ký của Nguyễn H u V, Điều tra viên Nguyễn Tấn Đ và đóng dấu tròn của Công an xã T T, huyện Lai Vung ở ph n giáp lai phong bì; 01 (m t) điện thoại di đ ng màn hình cảm ứng, nhãn hiệu S MSUNG, màu xám, số EMEI 1: 351709100156604/01, số IMEI 2: 351710100156602/01, ốp lưng màu đen, đã qua sử dụng. Nhưng giao Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
(Hiện vật chứng và số tiền trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 B luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc H i, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn H u V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 16/9/2020.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự: Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - T ND tỉnh ĐT; - VKSND tỉnh ĐT; - VKSND H.Lai Vung; - CCTHA-DS H.Lai Vung; - Cơ quan điều tra H. Lai Vung; - Cơ quan TH HS H. Lai Vung; - Sở tư pháp; - Bị cáo; - Lưu HS, V (Vinh). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐÃ KÝ Nguyễn Văn Út |