vanban.org

Bản án 35/2020/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 22/12/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/12/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Võ Đình L. Giữ nguyên Bản án hình sự s thẩm số 41/2020/HSST ngày 19/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt b cáo Võ Đình L 8 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Chiếm đoạt, mua án trái phép vật liệu nổ”. Thời gian chấp hành hình phạt của b cáo tính từ ngày ắt chấp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Đình L - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ (điều 305 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Võ Đình L. Giữ nguyên Bản án hình sự s thẩm số 41/2020/HSST ngày 19/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 305 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2020/HS-PT
Ngày: 22/12/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Tiến

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Cường

Ông Trương Công Thi

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Nhật, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Minh Lộc, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 07/2020/TLPT-HS ngày 02 tháng 10 năm 2020 đối với cáo Võ Đình L về tội “Chiếm đoạt, mua án trái phép vật liệu nổ”. Do có kháng cáo của b cáo đối với Bản án hình sự s thẩm số 41/2020/HS-ST ngày 19/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Bị cáo có kháng cáo:

Võ Đình L. Sinh ngày 12/02/1963, tại Bình Đ nh. N i đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn T, xã N, th xã A, tỉnh Bình Đ nh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Võ Ngọc L, sinh năm 1933 và à Nguyễn Th T, sinh năm 1943; có vợ là Nguyễn Th B, sinh năm 1964 và 03 con; Sống như vợ chồng với Lê Th Kim L (b cáo trong vụ án) và có 01 con chung sinh năm 2006; tiền án: không, tiền sự: không; B cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi n i cư trú (có mặt).

- Ngoài ra còn có 06 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

- Những người tham gia tố tụng khác có liên quan đến kháng cáo: Không.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 01h10’ ngày 10/01/2020, Tổ tuần tra Cảnh sát giao thông Công an huyện K, tỉnh Gia Lai bắt quả tang Võ Xuân T, Võ Công T1 về hành vi vận chuyển trái phép 962 kíp nổ; 41,5 kg thuốc nổ; 05 cuộn dây nổ (mỗi cuộn dài 50 mét), xe mô tô BKS 77F1-07470, 08 mũi khoan và 40,06m dây điện.

Tại Kết luận Giám đ nh số 72/C09 (Đ3, Đ4), ngày 15/01/2020 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận:

Các vật hình trụ tròn (ký hiệu M1, M2 và M3) gửi giám đ nh đều là kíp nổ điện vỏ nhôm và còn sử dụng được.

01 (một) cuộn dây (ký hiệu M4) gửi giám đ nh là dây nổ ch u nước và còn sử dụng được.

07 (bảy) thỏi hình trụ tròn (ký hiệu M5 và M6) gửi giám đ nh là thuốc nổ (nhủ tư ng và Amonit), còn sử dụng được là vật liệu nổ

Quá trình điều tra xác định được như sau:

Ngày 29/10/2019, ông Phạm Văn M (sinh năm 1968, trú tại Tổ 5, Khu vực 8, Phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định) ký kết Hợp đồng số 07/2019/HĐ-GK với Nguyễn Văn D (sinh năm 1966, trú tại Tổ 5, Khu vực 5, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định) về việc đập, đục đá núi tại xưởng gạch Đ tại Tổ 2, Khu vực 7, Phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Đ nh.

Sau đó, Nguyễn Văn D thuê Trần Trọng P (sinh năm 1963, trú tại Tổ 7, Khu vực 1, Phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định) nhận khoán công trình trên, nhưng P không nhận mà chỉ nhận khoán theo lỗ khoan (kích thước mỗi lỗ sâu 2m, đường kính 32mm) với giá 250.000đ/lỗ (tức nổ phá đá theo lỗ khoan). P nói do thời tiết mưa không dùng được ột nở để tách đá nên sử dụng vật liệu nổ (kíp nổ, hỗn hợp chất gây nổ) đánh rim đá (ôm đá) sẽ hiệu quả h n. Về quy trình kỹ thuật, vật liệu nổ P sẽ ch u trách nhiệm, D đồng ý. Sau đó, P gọi Bùi Ngọc Q (sinh năm 1984, trú tại thị xã A, tỉnh Bình Định) đến làm và cùng thống nhất mua kíp nổ về sử dụng phá đá.

Do trước đó Bùi Ngọc Q có quen iết với Võ Đình L (sinh năm 1963, trú tại Thôn T, xã N, th xã A, tỉnh Bình Đ nh) làm tại Mỏ đá Granit ốp lát Khu vực 1 (đóng tại Gia Lai) thuộc Công ty sản xuất đá Granit H (trụ sở: Gia Lai do ông Thân Trọng V làm Giám đốc) nên Q đã điện thoại hỏi L mua kíp nổ. L nói có 350 (ba trăm năm mươi) cái, án với giá 18.000 đồng/kíp. P đưa Q 6.300.000 đồng (sáu triệu ba trăm nghìn đồng) để trả tiền mua kíp nổ. Khoảng 02 ngày sau, Võ Đình L nhờ Võ Xuân T (sinh năm 1991, trú tại xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, cháu của L) mang 350 cái kíp nổ về Bình Đ nh. L ỏ kíp nổ trong ao tải (nhỏ) và không nói cho T iết. Khi về đến nhà T điện áo cho L. Sau đó, L điện thoại cho Q đến nhà T lấy kíp nổ, còn tiền về lấy sau. Tuy nhiên, khoảng 03 ngày sau, L điện thoại nói Q đưa 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) cho Nguyễn Th B (vợ L), còn 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) L cho Q. Sau khi nhận tiền, B đưa số tiền này cho con gái là Võ Th Thanh T mang đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Đ nh đưa cho L.

Sau khi mua 350 cái kíp nổ, Q đưa cho P cất để sử dụng. Để đảm ảo an toàn trong việc phá đá, D mua 01 (một) ộ kích điện và lấy 01 (một) cuộn dây dẫn điện ở nhà đưa cho P. Sau khi khoan được 12 đến 15 lỗ khoan, P trộn hỗn hợp chất (thay cho thuốc nổ) gồm: phân urê, chất diêm sinh, dầu hỏa đổ vào các lỗ khoan, gắn kíp nổ và kích nổ ằng ộ kích điện để nổ tách đá. Q làm cùng P đến giữa tháng 12/2019 thì nghỉ không làm nữa. P thuê Lê Văn U (sinh năm 1968, trú tại: tỉnh Bình Định) đến khoan lỗ đá, còn việc nổ tách đá P tự làm.

Trong quá trình sử dụng vật liệu nổ để phá đá, Nguyễn Văn D nói P cứ chủ động làm, việc đếm các lỗ khoan đã nhờ ông N (chưa xác đ nh được nhân thân lai l ch), ông Nguyễn T (sinh năm 1953, trú tại thành phố Q, tỉnh Bình Đ nh) kiểm đếm.

Đến đầu tháng 01/2020, P tiếp tục nhờ Q mua thêm 150 kíp nổ để phá cho xong khối đá còn lại. Q điện thoại hỏi L nhưng L nói chưa có. Khoảng 04 ngày sau, L điện thoại cho Q hỏi mượn 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) để trả nợ cho Nguyễn Ngọc D (Thôn Tráng L, xã N, A, Bình Định), khi nào có kíp nổ sẽ gửi về sau. Sau đó, Q đến gặp P lấy 3.000.000 đồng để trả nợ cho L.

Ngày 07/01/2020, L đưa chìa khóa kho đựng kíp nổ tại Mỏ đá Granit ốp lát Khu vực 1 cho Lê Th Kim L (Sinh năm 1968, trú tại Gia Lai, chung sống như vợ chồng với L) và nói L lấy khoảng 700 - 800 kíp nổ để ra ngoài, khi nào có người về Bình Đ nh thì gửi về. Sau đó, L lấy 962 (chín trăm sáu mươi hai) kíp nổ, bỏ vào ì nilon màu đen giấu dưới gầm giường trong phòng ngủ của L và L tại lán trại.

Đến khoảng 15 giờ ngày 09/01/2020, L đưa chìa khóa kho thuốc nổ cho Võ Xuân T để kiểm tra còn ao nhiêu thuốc nổ, dây nổ. T áo cho L biết số thuốc nổ còn nhiều. L nói T chuẩn b một ít thuốc nổ để ngày hôm sau (tức ngày 10/01/2020) nổ phá đá rồi nghỉ Tết nên T đã lấy 41,5 kg thuốc nổ và 05 (năm) cuộn dây nổ bỏ chung vào 01 ao tải để cách kho khoảng 02 mét, rồi lên mỏ đá làm việc.

Đến 20 giờ 30’ cùng ngày, Võ Xuân T rủ Võ Công T1 (sinh năm 1990, trú tại xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, anh ruột của T) về Bình Đ nh. T và T1 đến gặp L xin phép và ứng tiền về quê ăn tết. Sau khi T và T1 đi ra ngoài, L nói với L “khi nào tụi nhỏ về thì gửi ì kíp nổ về dưới luôn”. Nghe vậy, L đi ra hỏi T “khi nào về thì cho Mợ gửi ì đồ về dưới đó”. Sau đó, L nói T chở số thuốc nổ lấy ra từ chiều (theo chỉ đạo của L) đem về. T đồng ý và lấy 01 (một) bao tải ra chia thuốc nổ, dây dẫn nổ làm hai phần và giấu trong bụi cây mì cách lán trại khoảng 10 mét. T vào gặp L và hỏi “ ì đồ đâu Mợ”. L chỉ tay vào gầm giường. T vào phòng ngủ của L lấy ì kíp nổ mang ra gốc cây trứng cá trước lán trại. Thấy L đi đến, T hỏi “ ì gì đây Mợ” L trả lời là kíp nổ, mang về đến Bình Đ nh có người đến lấy. Sau đó, T lấy ì kíp nổ bỏ vào trong ao chứa thuốc nổ và đặt lên gác a ga xe máy BKS 77F1-074.70. T1 từ trong lán trại đi đến, giúp T khiêng ao thuốc nổ còn lại đặt lên yên xe. T1 hỏi “cái gì đây”, T trả lời “thuốc nổ của L và L nhờ mang giúp về Bình Định”. Sau đó, T điều khiển xe máy, T1 ngồi sau ôm ao thuốc nổ đi về hướng Bình Đ nh. Trên đường đi, T1 nói với T “Chở nhiều như thế này lỡ công an bắt thì chết hai anh em mình”, nhưng T không nói gì.

Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, L lấy số điện thoại của Q (0916543249) và T1 (0365850940) nhắn tin hai số điện thoại để liên lạc với nhau. Đến 01 giờ 10 phút ngày 10/01/2020, T và T1 b Công an ắt quả tang và thu giữ toàn ộ các vật liệu nổ trên.

Ngày 11/01/2020, ngày 13/01/2020, ngày 25/02/2020, ngày 28/02/2020 Võ Đình L, Lê Th Kim L, Bùi Ngọc Q, Nguyễn Văn D, Trần Trọng P đến Công an đầu thú và khai áo về hành vi phạm tội của mình.

*Đối với hỗn hợp chất (thay cho thuốc nổ); 25 kíp nổ làm ằng diêm sinh và thuốc pháo để tiếp tục phá đá nhưng không hiệu quả): do Trần Trọng P tự chế tạo để phá đá, quá trình điều tra không thu giữ được hỗn hợp này nên không có căn cứ xác đ nh.

*Đối với 962 cái kíp nổ, 41,5kg thuốc nổ và 200 mét dây nổ, Võ Đình L khai nhận, tháng 01/2020, khi mua vật liệu nổ Bùi Ngọc Q không nói số lượng, chủng loại cụ thể cần mua nên L nghĩ Q làm nghề khai thác đá nên sẽ cần số vật liệu này để nên đã gửi về án cho Q. Tuy nhiên, Q chỉ thừa nhận mua của L 150 kíp nổ. C quan An ninh điều tra đã tiến hành đối chất, giữa L và Q kết quả các ên vẫn giữ nguyên lời khai của mình.

Với các nội dung trên,

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2020/HS-ST ngày 19/8/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, quyết định:

Tuyên ố b cáo Võ Đình L phạm tội “Chiếm đoạt, mua án trái phép vật liệu nổ”.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 305 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự;

Xử phạt b cáo Võ Đình L 8 (tám) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày cáo đi thi hành án.

Bản án s thẩm còn quyết đ nh về phần tội danh và hình phạt đối với các b cáo Võ Xuân T, Võ Công T1, Lê Th Kim L, Bùi Ngọc Q, Trần Trọng P, Nguyễn Văn D; quyết đ nh về phần xử lý vật chứng, án phí s thẩm, tuyên quyền kháng cáo theo quy đ nh.

Sau khi xét xử s thẩm: Ngày 25/8/2020, cáo Võ Đình L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, không am hiểu pháp luật, lần đầu phạm tội.

Tại phiên tòa: B cáo Võ Đình L vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; Kiểm sát viên đề ngh Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của b cáo Võ Đình L, giữ nguyên Bản án hình sự s thẩm số 41/2020/HSST ngày 19/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Sau khi nghe: B cáo trình ày nội dung kháng cáo; quan điểm của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án và tranh luận tại phiên tòa. Sau khi thảo luận và ngh án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử s thẩm và lời khai của b cáo tại phiên tòa phúc thẩm thì có c sở để kết luận: Từ tháng 11 năm 2019 đến ngày 09/01/2020, Võ Đình L đã nhiều lần thực hiện hành vi chiếm đoạt và án vật liệu nổ các loại gồm: 1.132 kíp nổ, 41,5 kg thuốc nổ và 200m dây nổ của Công ty sản xuất đá Granit H. Với hành vi và hậu quả như trên, Bản án hình sự s thẩm số 41/2020/HSST ngày 19/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã tuyên ố b cáo Võ Đình L phạm tội: “Chiếm đoạt, mua án trái phép vật liệu nổ”. Tội phạm và hình phạt được quy đ nh tại khoản 3 Điều 305 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo Võ Đình L thì thấy: B cáo Võ Đình L đã có hành vi hành vi chiếm đoạt và án vật liệu nổ các loại gồm: 1.132 kíp nổ, 41,5 kg thuốc nổ và 200m dây nổ. Hành vi phạm tội của b cáo truy tố và xét xử theo tình tiết đ nh khung được quy đ nh tại điểm a khoản 3 Điều 305 Bộ luật hình sự năm 2015, có khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Hành vi phạm tội của b cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm đến chế độ quản lý vật liệu nổ của nhà nước, làm ảnh hướng đến trật tự xã hội, có nguy c gây nguy hiểm về sức khỏe, tính mạng của người khác nên cần phải xử lý nghiêm khắc. B cáo chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy đ nh tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Án s thẩm xử phạt b cáo 8 năm 6 tháng tù là mức án đầu khung của tội mà cáo truy tố và xét xử là có căn cứ, đúng tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của b cáo đã gây ra.

. Sau khi xét xử s thẩm, B cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có tình tiết giảm nhẹ nào khác nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo mà giữ nguyên Bản án hình sự s thẩm số 41/2020/HSST ngày 19/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đối với B cáo.

. Do kháng cáo không được chấp nhận nên B cáo phải ch u án phí hình sự phúc thẩm theo quy đ nh tại điểm b khoản 2 Điều 23 Ngh quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

. Các quyết đ nh của Bản án hình sự s thẩm đối với các cáo: Võ Xuân T, Lê Th Kim L, Bùi Ngọc Q, Trần Trọng P, Nguyễn Văn D và các quyết đ nh về: Trách nhiệm dân sự, Biện pháp tư pháp, Xử lý vật chứng; án phí s thẩm không có kháng cáo và không kháng ngh Hội đồng xét xử không xem xét.

Từ những nhận đ nh trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Võ Đình L. Giữ nguyên Bản án hình sự s thẩm số 41/2020/HSST ngày 19/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

2. Áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015;

Xử phạt b cáo Võ Đình L 8 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Chiếm đoạt, mua án trái phép vật liệu nổ”. Thời gian chấp hành hình phạt của b cáo tính từ ngày ắt chấp hành án.

3. Án phí phúc thẩm:

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 Ngh quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc b cáo Võ Đình L phải ch u 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết đ nh của Bản án hình sự s thẩm đối với các cáo: Võ Xuân T, Lê Th Kim L, Bùi Ngọc Q, Trần Trọng P, Nguyễn Văn D và các quyết đ nh về: Trách nhiệm dân sự, Biện pháp tư pháp, Xử lý vật chứng; án phí s thẩm không có kháng cáo và không kháng ngh có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ