vanban.org

Bản án 35/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện về việc yêu cầu ly hôn của chị Phùng Thị Phương D.

Chị Phùng Thị Phương D được ly hôn anh Đỗ Anh T. Về con chung: Giao cháu Đỗ Kim Ngân, sinh ngày 02/12/2010 cho chị Phùng Thị Phương D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định khác của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối vớ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dung - Tuấn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện về việc yêu cầu ly hôn của chị Phùng Thị Phương D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚC THỌ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 26 - 11 - 2020
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Đức Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đức Sắc và bà Kiều Thị Ninh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Khuất Thu Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 215/2020/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2020 về việc tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2020/QĐXX-HNGĐ ngày 02/11/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2020/QĐ-HNGĐ ngày 19/11/2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phùng Thị Phương D, sinh năm 1988; địa chỉ: Tổ 1, khu Xuân Hà, thị trấn XM, huyện CM, Thành phố Hà Nội; có mặt

- Bị đơn: Anh Đỗ Anh T, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn 9, xã SP, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và các bản khai của chị Phùng Thị Phương D thể hiện: Chị kết hôn với anh Đỗ Anh T trên cơ sở tự nguyện và được UBND xã Sen Chiểu (nay là xã Sen Phương), huyện Phúc Thọ đăng ký năm 2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng ở tại Xuân Mai, Chương Mỹ và chỉ chung sống hạnh phúc thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, dẫn đến thường xuyên cãi nhau, xúc phạm nhau. Nhiều lần anh Tuấn có hành vi bạo lực đối với chị, ngay cả khi chị đang mang thai. Từ tháng 02/2011, anh Tuấn đã về huyện Phúc Thọ sống cùng với bố mẹ đẻ. Vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay và cắt đứt mọi quan hệ. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Tuấn.

Về con chung: Chị và anh Tuấn có 01 con chung là cháu Đỗ Kim Ngân,sinh ngày 02/12/2010 đang ở với chị. Ly hôn, chị nhận nuôi con và không yêu cầu anh Tuấn phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có

- Bị đơn là anh Đỗ Anh T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh Tuấn vắng mặt tất cả các lần Tòa án triệu tập nên không tiến hành các thủ tục tố tụng với anh Tuấn được.

- Ông Đỗ Văn Thịnh là bố đẻ anh Đỗ Anh T trình bày: Anh Tuấn đã được gia đình thông báo về việc chị Dung xin ly hôn anh Tuấn và các văn bản tố tụng khác của Tòa án. Do anh Tuấn làm xa nhà nên không đến Tòa án giải quyết được. Anh Tuấn và chị Dung đã ly thân từ năm 2011, không quan tâm gì đến nhau. Chị Dung nuôi con chung của anh chị từ khi sinh cho đến nay. Hôn nhân của anh Tuấn và chị Dung không có hạnh phúc. Ông đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, chị Dung giữ nguyên yêu cầu được ly hôn, được nuôi con. Anh Tuấn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần 2 nhưng đều vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ tại phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Tòa án xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc yêu cầu ly hôn của chị Phùng Thị Phương D. Chị Dung được ly hôn anh Đỗ Anh T. Về con chung: Giao con chung là cháu Đỗ Kim Ngân,sinh ngày 02/12/2010 cho chị Dung trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Tuấn. Chị Dung phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về tố tụng: Nguyên đơn là chị Phùng Thị Phương D có đơn xin ly hôn anh Đỗ Anh T, đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã Sen Phương, huyện Phúc Thọ và quan hệ tranh chấp về ly hôn nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Hôn nhân giữa chị Phùng Thị Phương D và anh Đỗ Anh T trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Sen Chiểu (nay là xã Sen Phương), huyện Phúc Thọ năm 2010 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp theo quy định khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc chỉ trong thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tôn trọng và thiếu lòng tin vào nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2011 đến nay và cắt đứt mọi quan hệ. Chị Dung xác định không còn tình cảm vợ chồng và xin được ly hôn anh Tuấn. Kết quả điều tra xác minh thể hiện: Vợ chồng chị Dung và anh Tuấn mâu thuẫn là thật, đã sống ly thân từ năm 2011 đến nay và không quan tâm gì đến nhau. Xét thấy, quan hệ vợ chồng giữa chị Dung và anh Tuấn không còn gắn bó, vợ chồng đã sống ly thân thời gian dài, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, chị Dung xin ly hôn anh Tuấn là có căn cứ.

Về con chung: Chị Dung và anh Tuấn có 01 con chung là Đỗ Kim Ngân, sinh ngày 02/12/2010. Cháu Ngân ở với chị Dung từ khi sinh ra đến nay. Ly hôn, chị Dung xin nuôi con và không yêu cầu anh Tuấn phải cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu Ngân có nguyện vọng tiếp tục ở cùng mẹ, nên giao cháu Ngân cho chị Dung trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Dung xác định không có. Tuy nhiên, do anh Tuấn vắng mặt, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự, Tòa án không giải quyết quan hệ tài sản và nợ trong vụ án này. Nếu chị Dung, anh Tuấn có tranh chấp tài sản chung, nợ chung sẽ giải quyết bằng một vụ án khác nếu có đủ điều kiện.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Dung phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 3 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc yêu cầu ly hôn của chị Phùng Thị Phương D.

- Chị Phùng Thị Phương D được ly hôn anh Đỗ Anh T.

- Về con chung: Giao cháu Đỗ Kim Ngân, sinh ngày 02/12/2010 cho chị Phùng Thị Phương D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định khác của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Tuấn cho đến khi có yêu cầu mới hoặc khi có quyết định khác của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Anh Tuấn có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.

2. Về án phí: Chị Phùng Thị Phương D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003257 ngày 05/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội.

3. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Đức Hiếu

Cỡ chữ