vanban.org

Bản án 35/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Hoa G về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn là anh Võ Văn T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Hoa G được ly hôn với anh Võ Văn T. 2. Về con chung: Giao chị Trần Thị Hoa G được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Võ Thị Thanh T1, sinh ngày 26/9/2006 và cháu Võ Thành Đ, sinh ngày 27/5/2011.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị G xin ly hôn với anh T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Hoa G về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn là anh Võ Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 35/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 30-6-2020
V/v: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vọng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Nữ

2. Bà Nguyễn Thị Thu Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Châu Thị Hoài Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương, Tòa án nhân dân thành phố T mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 143/2020/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2020 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2020/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Hoa G, sinh năm 1989; HKTT: phường CB, thành phố C, tỉnh An Giang; hiện cư trú tại: phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

2. Bị đơn: Anh Võ Văn T, sinh năm 1982; cư trú tại: phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]. Theo đơn khởi kiện ngày 27 tháng 4 năm 2020 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Hoa G trình bày:

Chị G và anh T quen biết và chung sống với nhau vào năm 2005; có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 52, ngày 16 tháng 4 năm 2008. Từ khi kết hôn đến nay vợ chồng không có hạnh phúc mà nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, anh T thường xuyên đi nhậu về là đập phá đồ đạc trong nhà và xúc phạm chị G dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị G yêu cầu được ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị G và anh T có 02 con chung là cháu Võ Thị Thanh T1, sinh ngày 26/9/2006 và cháu Võ Thành Đ, sinh ngày 27/5/2011. Khi ly hôn, chị G yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung; không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2]. Bị đơn anh Võ Văn T mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, tham gia hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không gửi văn bản ghi ý kiến của mình cho Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của anh T được.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn chị Trần Thị Hoa G có đơn xin giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn anh Võ Văn T vắng mặt không có lý do.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định pháp luật, riêng bị đơn anh Võ Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không tham gia phiên tòa nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ thẩm quyền theo quy định đối với những người tiến hành tố tụng. Do nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là đúng theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục gì thêm.

+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật: Ngày 27 tháng 4 năm 2020, chị Trần Thị Hoa G có đơn khởi kiện về việc yêu cầu được ly hôn với anh Võ Văn T và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung nên đây là vụ án “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại Điều 51, Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[1.2]. Về thẩm quyền: Tại thời điểm thụ lý, bị đơn anh Võ Văn T đang cư trú tại thành phố T, tỉnh Bình Dương nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.

[1.3]. Về việc tham gia phiên tòa của đương sự: Tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Thị Hoa G có đơn xin giải quyết vắng mặt; bị đơn anh Võ Văn T vắng mặt không có lý do mặc dù đã được triệu tập đến tham dự phiên tòa lần thứ hai. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố T tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả các đương sự.

[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Ngày 16 tháng 4 năm 2008, chị G và anh T đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Việc chung sống và đăng ký kết hôn giữa chị G và anh T là hoàn toàn tự nguyện, không bên nào bị ép buộc nên đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 9, Điều 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 nên hôn nhân giữa chị G và anh T là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Quá trình chung sống, chị G xác định vợ chồng có nhiều mâu thuẫn mà nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, anh T không chăm lo cho gia đình, thường xuyên đi nhậu, về là đập phá đồ đạc trong nhà, đe dọa và xúc phạm chị G dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng; hiện nay chị G và anh T không ai còn quan tâm đến ai nữa. Việc, chị G và anh T không còn quan tâm, thương yêu, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau và không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn nên đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Hơn nữa, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh T nhiều lần để Tòa án tiến hành hòa giải đoàn tụ gia đình nhưng anh T vẫn cố tình vắng mặt, điều này chứng tỏ anh T không có thiện chí mong muốn gia đình được đoàn tụ.

Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định, hôn nhân giữa chị G và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của chị G, cho chị G được ly hôn với anh T.

[2.2]. Về con chung: Chị G và anh T có 02 người con chung là cháu Võ Thị Thanh T1, sinh ngày 26/9/2006 và cháu Võ Thành Đ, sinh ngày 27/5/2011; sau khi ly hôn, chị G yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung. Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án chị G đã cung cấp chứng cứ chứng minh chị G có đủ khả năng nuôi dạy các con; đồng thời các con cũng có nguyện vọng được ở với chị G. Còn anh T, không đến Tòa án làm việc nên không biết được nguyện vọng và khả năng của anh T về phần con chung là như thế nào. Vì vậy, để cháu T1 và cháu Đ có điều kiện phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội, cần giao cháu T1 và cháu Đ cho chị G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp nên yêu cầu của chị G về phần con chung được chấp nhận.

[2.3]. Về cấp dưỡng: Chị G không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[2.4]. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[3]. Tại Tòa, quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố T là có cơ sở.

[4]. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Chị G phải chịu 300.000 đồng; anh T không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 238, 266, 267, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Hoa G về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn là anh Võ Văn T.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Hoa G được ly hôn với anh Võ Văn T.

1.2. Về con chung: Giao chị Trần Thị Hoa G được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Võ Thị Thanh T1, sinh ngày 26/9/2006 và cháu Võ Thành Đ, sinh ngày 27/5/2011.

1.3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét giải quyết.

1.4. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai có quyền cấm đoán, ngăn cản. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên có quyền yêu cầu mức cấp dưỡng, xin thay đổi người trực tiếp nuôi con nếu có căn cứ cho rằng bên kia không đáp ứng được quyền lợi của con.

1.5. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị Hoa G phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng); được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Trần Thị Hoa G đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0041709 ngày 06/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Bình Dương.

3. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.

Cỡ chữ