- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hứa Hồng X ly hôn với Trần Thị A."
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 35/2020/HNGĐ-ST Ngày: 20/8/2020 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trương Quang Trung;
2. Bà Huỳnh Thị Thùy Dung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang
tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Vân –Kiểm sát viên. Ngày 20 tháng 8
năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C xét xử sơ thẩm công khai vụ
án thụ lý số: 19/2020/TLST-HN&GĐ ngày 15 tháng 01 năm 2020 về “tranh
chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
66/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2020, Quyết định hoãn phiên
tòa số: 131/2020/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2020, giữa:
1.Nguyên đơn: Ông Hứa Hồng X, sinh năm 1972, nơi cư trú: Tổ 3, khóm
H, phường M, thành phố C, tỉnh An Giang.
Địa chỉ hiện nay: Số 88 La Thành Thân, tổ 28, khóm L, phường F, thành
phố C, tỉnh An Giang;
2.Bị đơn: Bà Trần Thị A, sinh năm 1975, nơi cư trú: Tổ 3, khóm H,
phường M, thành phố C, tỉnh An Giang.
Ông Hứa Hồng X có đơn xin xét xử vắng mặt; bà Trần Thị A vắng mặt tại
phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn ông Hứa Hồng X trình bày: Ông X và bà A tự quen biết và đi đến hôn nhân,
đăng ký kết hôn năm 2017 tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố C, tỉnh An
Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, bà A thường xuyên bỏ nhà đi và không còn sống chung với nhau cho đến nay, hôn nhân không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, ông X yêu cầu ly hôn với bà A.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, ông X và bà A có 02 con chung
tên Hứa Hồng Q, sinh năm 2000 (đã trưởng thành) và Y, sinh ngày 15/02/2005. Ông X yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 01 con chung tên Y, không yêu cầu bà A cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết và nợ
chung không có.
Tại văn bản trình bày ý kiến của bà Trần Thị A thể hiện cuộc sống chung
của vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn cụ thể như năm 2013 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bà A có gửi đơn đến Tòa án nhân nhân thành phố C và được Tòa án giải quyết không công nhận vợ chồng. Năm 2014, vì nghĩ đến các con nên bà A chung sống lại với ông X nhưng được vài tháng thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bà A có gửi đơn xin ly hôn với ông X; nghĩ đến các con nên bà A xin rút đơn khởi kiện và đăng ký kết hôn vào năm 2017. Năm 2019, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên bà bỏ đi thành phố Hồ Chí Minh sinh sống từ đó cho đến nay. Bà nhận thấy mâu thuẫn có xảy ra và không còn chung sống với ông X nhưng việc ly hôn ảnh hưởng đến sự nghiệp của con (đang học trường quân đội tại Hà Nội) nên bà không đồng ý ly hôn. Về tài sản chung vợ chồng có tạo lập căn nhà gắn liền với quyền sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do vợ chồng cùng đứng tên, 02 chiếc xe môtô. Đối với tài sản chung bà cho rằng vợ chồng không ai có quyền phân chia tài sản chung này mà giao tất cả các tài sản chung nêu trên cho các con được hưởng.
Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà Trần Thị A vắng mặt
nên vụ án không tiến hành hòa giải được.
Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về xét sử sơ thẩm vụ án.
+ Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá
trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.Tại phiên tòa, bị đơn được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt; nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự như theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Ông Hứa Hồng X và bà Trần Thị A có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân
hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm,
chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia
đình. Trong thời gian sống chung, ông X và bà A phát sinh mâu thuẫn, đã không
còn sống chung với nhau từ năm 2019 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai.
Nhận thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn, có
tiếp tục duy trì hôn nhân thì mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc ông
X yêu cầu ly hôn với bà A là có căn cứ chấp nhận.
Về con chung: Ông X và bà A có 02 con chung tên Hứa Hồng Q, sinh
năm 2000 (đã trưởng thành) và Y, sinh ngày 15/02/2005 hiện do ông X đang
nuôi dạy, ông X có công việc, thu nhập ổn định, có yêu cầu tiếp tục nuôi dạy
con chung, không yêu cầu bà A phải cấp dưỡng nuôi con. Do đó, yêu cầu của
ông X là có căn cứ chấp nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét
xử không đề cập xem xét.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều
51,56,81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử
nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Nguyên đơn ông Hứa Hồng X khởi kiện yêu cầu ly
hôn với bà Trần Thị A. Hiện nay bà A đang sống tại thành phố Hồ Chí Minh
nhưng không đăng ký tạm trú, tạm vắng nhưng hộ khẩu thường trú vẫn còn tại
Khóm H, phường M, thành phố C và tại biên bản xác minh thể hiện bà A thỉnh
thoảng có về thăm gia đình. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố C theo quy định tại
khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bà A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ
lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt; căn cứ điểm b khoản 2 Điều
227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng
mặt đối với bà A.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Hứa Hồng X và bà Trần Thị A tự quen
biết và đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn năm 2017 tại Ủy ban nhân dân phường
M, thành phố C, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 74 ngày
13/7/2017 nên là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ
chồng.
Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:
Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc,
giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có
thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.
Xét, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ
lẫn nhau nhưng ông X, bà A đã xảy ra mâu thuẫn từ những năm 2014 và bà A cũng nhiều lần làm đơn xin ly hôn với ông X. Bà A biết được việc ông X ly hôn với bà A nhưng vẫn không có mặt tại Tòa án để tham gia hòa giải và hiện nay, ông X, bà A đã không còn sống chung với nhau từ năm 2019 cho đến nay; ông X, bà A mỗi người đều có cuộc sống riêng, không ai quan tâm, chăm sóc cho ai.
Từ những căn cứ nêu trên, nhận thấy mâu thuẫn gia đình giữa ông X với
bà A là trầm trọng, có kéo dài quan hệ hôn nhân thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông X về việc ly hôn với bà A theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về con chung: Ông X, bà A cùng xác định trong thời kỳ hôn nhân,
vợ chồng có 02 con chung tên Hứa Hồng Q, sinh năm 2000 (đã trưởng thành) và Y, sinh ngày 15/02/2005. Từ khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và không còn sống chung đến nay, cháu Y sống cùng với ông X, được ông X chăm sóc và cho đi học. Ông X có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Y là phù hợp với nguyện vọng của cháu.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có
thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ông X không yêu cầu bà A cấp
dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Về tài sản chung: Ông X không yêu cầu chia tài sản chung của vợ
chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp, bà Trần Thị A, ông Hứa Hồng X có yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng thì có quyền làm đơn khởi kiện tranh chấp trong vụ án khác.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Ông Hứa Hồng X phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm theo
quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà ông X đã nộp.
Bà Trần Thị A không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hứa Hồng X.
[1] Về quan hệ hôn nhân: ông Hứa Hồng X được ly hôn với bà Trần Thị
A.
Giấy chứng nhận kết hôn số 74, ngày 13/7/2017 của Ủy ban nhân dân
phường M, thành phố C, tỉnh An Giang không còn giá trị
pháp lý.
[2] Về con chung: Ông Hứa Hồng X được tiếp tục nuôi dạy con chung tên
Y, sinh ngày 15/02/2005 cho đến tuổi trưởng thành.
Ông Hứa Hồng X cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản
trở bà Trần Thị A trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có
thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc
cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[3] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Ông Hứa Hồng X phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn
nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm
đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003550 ngày 14 tháng
01 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C; ông X đã nộp đủ án
phí.
Bà Trần Thị A không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo:
Thời hạn kháng cáo của ông Hứa Hồng X là 15 ngày kể từ ngày nhận
được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Riêng thời hạn kháng cáo của bà Trần Thị A là 15 ngày kể từ ngày bản
án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND TP. Châu Đốc (2); - TAND tỉnh An Giang (1); - Chi cục THADS TP.Châu Đốc (1); - Các đương sự; - UBND xã, phường nơi đăng ký kết hôn; - Lưu hồ sơ (1); - Lưu văn phòng (1). | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Ngọc Tiền |