vanban.org

Bản án 35/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Vòng Cún L. Bà Vòng Cún L được ly hôn ông Phồng Tằng B.

Về con chung: Giao cháu Phồng Ngọc T, sinh ngày 01/10/2008 và Phồng Gia H, sinh ngày 07/6/2010 cho bà Vòng Cún L được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời bà L chưa yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con. Ông Phồng Tằng B không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà khô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn bà L ông B"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Vòng Cún L. Bà Vòng Cún L được ly hôn ông Phồng Tằng B.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 30/6/2020
V/v “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tòa: Bà Lê Thị Ký

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Quang Hoạch và bà Đào Thị Giang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Mạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 30/6/2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 93/2020/TLST- HNGĐ ngày 17/02/2020 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 05 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2020/QĐST-HNGĐ ngày 12/6/2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Vòng Cún L, sinh năm 1986

Địa chỉ: 194, đường số 4, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai;

Bị đơn: Ông Phồng Tằng B, sinh năm 1978.

Địa chỉ: 194, đường số 4, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai;

(bà L và ông B vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai bà Vòng Cún L trình bày:

Bà và ông Phồng Tằng B kết hôn năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, hôn nhân tự nguyện. Vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, đã ly thân hơn một năm không còn quan tâm đến nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin ly hôn ông Phồng Tằng B vì hàn gắn vợ chồng cũng không hạnh phúc.

Về con chung: Có 02 con chung tên là Phồng Ngọc T, sinh ngày 01/10/2008 và Phồng Gia H, sinh ngày 07/6/2010. Ly hôn, bà xin trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T và cháu H. Về cấp dưỡng: Bà chưa yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà L khai không có.

Bị đơn ông Phồng Tằng B vắng mặt suốt trong quá trình tố tụng và không có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T: Tòa án thu thập chứng cứ đầy đủ, Hội đồng xét xử đúng quy định bảo đảm quyền và nghĩa vụ của đương sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của Bà L. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Bà L khai không có. Bà L phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Về thủ tục tố tụng: Bà Vòng Cún L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Ông B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà L, ông B.

Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông B kết hôn năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, hôn nhân tự nguyện nên được coi là hôn nhân hợp pháp. Nay bà L xin ly hôn, Tòa án căn cứ Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

Về nội dung: Bà L trình bày, vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, đã ly thân hơn một năm không còn quan tâm đến nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà cương quyết xin ly hôn. Tại biên bản xác minh, mặc dù địa phương không rõ vợ chồng bà L, ông B có mâu thuẫn hay không nhưng qua lời khai của của bà L và việc ông B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt và không có ý kiến về yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chứng tỏ ông B không quan tâm đến quan hệ hôn nhân và không thiết tha hàn gắn tình cảm vợ chồng, do đó hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu xin ly hôn của bà L là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về con chung: Có 02 con chung tên là Phồng Ngọc T, sinh ngày 01/10/2008 và Phồng Gia H, sinh ngày 07/6/2010. Ly hôn, bà L xin trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T và cháu H. Các cháu đang ở ổn định với bà L và đều có nguyện vọng ở với mẹ. Ông B đã được Tòa triệu tập nhưng không có ý kiến về con chung nên giao cháu T và cháu H cho bà L chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng: bà L chưa yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con mà để ông B tự nguyện nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do vậy Tòa án không xem xét về cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Do không có lời khai của ông B về tài sản chung và nợ chung nên cần tách ra giải quyết khi các đương sự có yêu cầu.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Vòng Cún L phải nộp 300.000đ án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006903 ngày 10/02/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Vòng Cún L. Bà Vòng Cún L được ly hôn ông Phồng Tằng B.

Về con chung: Giao cháu Phồng Ngọc T, sinh ngày 01/10/2008 và Phồng Gia H, sinh ngày 07/6/2010 cho bà Vòng Cún L được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời bà L chưa yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.

Ông Phồng Tằng B không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết các đương sự được quyền xin thay đổi việc nuôi dưỡng cũng như yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Do không có lời khai của ông về tài sản chung và nợ chung nên cần tách ra giải quyết khi các đương sự có yêu cầu.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Vòng Cún L phải nộp 300.000đ án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006903 ngày 10/02/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T

Bà L, ông B được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ