vanban.org

Bản án 35/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về quan hệ hôn nhân: Chị La Thị G được ly hôn Anh Nguyễn Văn Ng. Về con chung: Giao cho Nguyễn Văn Nghĩa tiếp tục 02 con chung là Nguyễn La Nhã U, sinh 19/5/2013 và Nguyễn Khôi Ng sinh 27/10/20143.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Giang ly hôn Nghĩa"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN
TỈNH BẮC GIANG
Bản án số: 35/2020/HNGĐ-ST
Ngày 28/7/2020
V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyên

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Quốc Sửu

Ông Giáp Hồng Thanh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sự - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 132/2020/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2020 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị La Thị G, sinh năm 1990 ( có mặt)

Nơi ĐKHKTT: thôn A, xã Ng, huyện TY, tỉnh Bắc Giang. Nơi ở hiện nay: Khu 3, thị trấn B, huyện V Y, tỉnh Bắc Giang.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Ng, sinh năm 1987 ( xin vắng mặt)

Nơi cư trú: thôn A, xã Ng, huyện TY, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn là Chị La Thị G trình bày:

Chị kết hôn với Anh Nguyễn Văn Ng ngày 06/7/2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ngọc Lý, có tìm hiểu nhau và tự nguyện đi đến kết hôn, thời gian tìm hiều nhau khoảng 03 tháng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015, thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng sống chung với bố mẹ chồng có bất đồng quan điểm sống, giữa chị và mẹ chồng mâu thuẫn nhau trong cuộc sống hằng ngày, anh Ng nghe mẹ đẻ không bảo vệ chị dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau nên chị không tiếp tục sống chung. Đến tháng 6/2016 chị thuê nhà trọ bên ngoài để sống riêng, còn anh Ng sống với bố mẹ, vợ chồng chị sống ly thân từ đó đến nay không ai quan tâm gì nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị xin được ly hôn Anh Nguyễn Văn Ng.

Về con chung: vợ chồng chị có 02 con chung là Nguyễn La Nhã U, sinh 19/5/2013 và Nguyễn Khôi Ng sinh 27/10/2014. Hiện cả 2 con đang ở với anh Ng. Khi ly hôn chị đồng ý để anh Ng nuôi cả 02 con. Vấn đề cấp dưỡng chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, quyền và nghĩa vụ chung về tài sản, công nợ, công sức đóng góp trong thời gian ở chung, ruộng canh tác: Chị G không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Tại phiên toà, Chị G giữ nguyên yêu cầu.

Đối với Anh Nguyễn Văn Ng, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Ng nhưng anh Ng không đến Tòa án làm việc tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án tiến hành hòa giải được. Anh Ng có gửi các đơn đề nghị ghi ngày 19/7/2020; ngày 22/7/2020 và ngày 27/7/2020 đến Tòa án trình bày: anh đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa, anh đồng ý ly hôn với Chị G, khi ly hôn anh xin nuôi dưỡng cả 02 con chung, anh yêu cầu Chị G cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh số tiền là 3.000.000đồng/tháng/02 con hoặc theo quy định pháp luật nhưng đến ngày 27/7/2020 anh Ng có đơn đề nghị không yêu cầu giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đảm bảo theo quy định.

Đối với những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Xử cho Chị La Thị G được ly hôn Anh Nguyễn Văn Ng. Về con chung giao cho anh Ng nuôi dưỡng cả 02 con chung. Vấn đề cấp dưỡng không xem xét, Chị G phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án và thẩm tra chứng cứ tại phiên toà, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết, thủ tục tố tụng: Chị G khởi kiện yêu cầu ly hôn và con chung với anh Ng có nơi cư ĐKHK và nơi ở tại thôn An Lập, xã Ngọc Lý, huyện Tân Yên. Tòa án nhân dân huyện Tân Yên đã thụ lý giải vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình là đúng pháp luật, đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải nhưng không thành nên đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định.

Tại phiên tòa, anh Ng có đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh Ng là đúng quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị G và anh Ng kết hôn ngày 06/7/2012 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ng, huyện Tân Yên nên hôn nhân giữa anh chị là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị đã có thời gian chung sống hạnh phúc. Đến năm 2015, vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn, đỉnh điểm của mẫu thuẫn vào tháng 6/2016 Chị G đi thuê nhà trọ sống riêng không về ở với anh Ng, còn anh Ng sống với bố mẹ, vợ chồng anh chị sống ly thân từ đó đến nay không ai quan tâm gì nhau nữa. Nay Chị G xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh Ng và yêu cầu ly hôn. Hội đồng xét xử thấy, mâu thuẫn giữa Chị G và anh Ng đã trầm trọng, đời sống chung thực tế không còn tồn tại nhiều năm trở lại đây, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần xử cho Chị G ly hôn anh Ng là phù hợp.

[3] Về nuôi dưỡng con chung: vợ chồng Chị G, anh Ng có 02 con chung là cháu Nguyễn La Nhã U, sinh 19/5/2013 và cháu Nguyễn Khôi Ng sinh 27/10/2014 hiện cả 02 con chung đang sống cùng anh Ng và ông bà nội nên HĐXX thấy, anh Ng đang sống cùng bố mẹ đẻ có điều kiện về nơi ở cũng như thời gian, được bố mẹ đẻ phụ giúp để chăm sóc giáo dục các con phát triển. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình, HĐXX giao cả 02 con chung cho anh Ng tiếp tục nuôi dưỡng là đảm bảo sự ổn định cuộc sống, quyền lợi mọi mặt của các con chung, phù hợp với yêu cầu và nguyện vọng của Chị G, anh Ng.

- Vê yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Tại đơn khởi kiện và biên bản tự khai, biên bản ghi lời khai Chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung. Tại đơn đề nghị ngày 19/7/2020; 22/7/2020 anh Ng có yêu cầu Chị G cấp dưỡng nuôi con chung là 3.000.000đồng/tháng/02 con hoặc theo quy định pháp luật nhưng đến ngày 27/7/2020 anh Ng có đơn đề nghị không yêu cầu giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét giải quyêt.

Sau khi ly hôn, Chị G có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở Chị G thực hiện quyền, nghĩa vụ này.

[4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, công sức đóng góp trong thời gian ở chung, ruộng canh tác: Chị G yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí: Chị G phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 146; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị La Thị G được ly hôn Anh Nguyễn Văn Ng.

2. Về con chung: Giao cho Nguyễn Văn Nghĩa tiếp tục 02 con chung là Nguyễn La Nhã U, sinh 19/5/2013 và Nguyễn Khôi Ng sinh 27/10/20143.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn Chị G có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở Chị G thực hiện quyền, nghĩa vụ này

Về án phí: Chị La Thị G phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0006330 ngày 27 tháng 5 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên. Xác nhận Chị La Thị G đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án./ Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bắc Giang;

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- VKSND huyện Tân Yên;

- CCTHADS huyện Tân Yên;

- UBND xã Ngọc Lý;

- Các đương sự;

- Lưu.

Nguyễn Thị Duyên THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giáp Hồng Thanh

Nguyễn Quốc Sửu

Nguyễn Thị Duyên

Cỡ chữ