vanban.org

Bản án 35/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử ly hôn giữa chị Trần Thị Th và anh Đinh Văn T.

Về con chung: Giao cháu Đinh Thị Tr, sinh ngày 21 tháng 3 năm 2006 cho chị Trần Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Đinh Văn H, sinh ngày 25 tháng 11 năm 2010 cho anh Đinh Văn T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi, có khả năng lao động tự lập được; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con ch…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Th - Đinh Văn T: Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử ly hôn giữa chị Trần Thị Th và anh Đinh Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIAO THỦY
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2020/HNGĐ - ST
Ngày: 23 - 6 - 2020
V/v “Ly hôn giữa chị Trần Thị Th và
anh Đinh Văn T”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ngọc Giao;

Ông Trần Hà Bắc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngoan - Thư ký Toà án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Tuất - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 01 và ngày 23 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2020/TLST - HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2020 về tranh chấp: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 15-5-2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Th; sinh năm 1986; nơi ĐKHKTT: Xóm Th G xã GTh, huyện GT, tỉnh NĐ; tạm trú: Xóm 14 xã HT, huyện GT, tỉnh NĐ; “có mặt”.

- Bị đơn: Anh Đinh Văn T; sinh năm 1981; địa chỉ: Xóm Th G xã GTh, huyện GT, tỉnh NĐ; “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 04 - 02 - 2020, bản tự khai và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Th trình bày: Chị và anh Đinh Văn T tự nguyện tìm hiểu và đã được Ủy ban nhân dân xã GTh, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 30-12-2004. Sau kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được gần 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn do T tình vợ chồng không hợp nhau. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Vợ chồng có 02 con chung là Đinh Thị Tr, sinh ngày 21 tháng 3 năm 2006 và Đinh Văn H, sinh ngày 25 tháng 11 năm 2010. Nay chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T; chị nhận nuôi cả hai con chung nếu anh T cũng nhận nuôi con thì chị nhận nuôi cháu Trang; còn cháu Hoàng để anh T nuôi, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau; về tài sản: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản làm việc ngày 06-02-2020, anh Đinh Văn T có ý kiến như sau: Anh từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và từ chối làm việc. Chị Th có đơn ly hôn là quyền của chị Th, anh không cản trở gì nhưng anh không đồng ý ly hôn. Nếu phải ly hôn, anh nhận nuôi 02 con chung, không yêu cầu cấp dưỡng; về tài sản: không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 28-4-2020, cháu Đinh Thị Trang và Đinh Văn Hoàng đều mong muốn bố mẹ đoàn tụ nên không có ý kiến về việc muốn ở với ai.

Tại biên bản thu thập chứng cứ ngày 06-02-2020, đại diện chính quyền địa phương cùng đoàn thể, cơ sở xóm Th Giáo xã GTh, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định cung cấp: Chị Trần Thị Th và anh Đinh Văn T được Ủy ban nhân dân xã GTh cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2004 và có tổ chức đám cưới theo tập quán địa phương. Vợ chồng có 02 con chung. Sau kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 5 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nay chị Th có đơn ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn và nuôi con theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho chị Trần Thị Th và anh Đinh Văn T ly hôn. Về con chung: Giao cháu Đinh Thị Tr, sinh ngày 21 tháng 3 năm 2006 cho chị Trần Thị Th nuôi; giao cháu Đinh Văn H, sinh ngày 25 tháng 11 năm 2010 cho anh Đinh Văn T; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau và có quyền nghĩa vụ tham nom con chung. Về án phí: Đương sự phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và lời khai của đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Đinh Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] VÒ quan hÖ h«n nh©n: Chị Trần Thị Th và anh Đinh Văn T tự nguyện tìm hiểu và đã đăng ký kết hôn tại UBND xã GTh, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định vào ngày 30-12-2004 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sông shanhj phúc được khoảng 5 năm thì phát sinh mâu thuẫn do không hợp nhau và tới năm 2018 thì sống ly thân. Nay chị Th có nguyện vọng đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn. Anh T từ chối làm việc và nhận các văn bản của Tòa án; mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn không đến Tòa án để làm việc. Vì vậy Tòa án xét đến tình trạng hôn nhân giữa chị Th và anh T mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt, nếu có kéo dài cũng không mang lại hạnh phúc. Vì vậy, chấp nhận nguyện vọng xin ly hôn của chị Th là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Căn cứ nguyện vọng của các đương sự và để đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho các con nên giao chị Th nuôi cháu Đinh Thị Tr, giao anh T nuôi cháu Đinh Văn H; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con.

[4]Về tài sản: Đương sự không đề nghị nên Tòa án không giải quyết.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Th phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm; chị Th, anh T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Xử ly hôn giữa chị Trần Thị Th và anh Đinh Văn T.

2. Về con chung: Giao cháu Đinh Thị Tr, sinh ngày 21 tháng 3 năm 2006 cho chị Trần Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Đinh Văn H, sinh ngày 25 tháng 11 năm 2010 cho anh Đinh Văn T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi, có khả năng lao động tự lập được; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Trần Thị Th phải nộp: 300.000 đồng án phí ly hôn. Chị Th đã nộp số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng tại biên lai thu số 0001190 ngày 04 tháng 02 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; nay đối trừ, chị Th đã nộp đủ tiền án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Th có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Đinh Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ