- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp HĐTD"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện v/v "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng" của Ngân hàng TMCP S đối với ông Đỗ Phú N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2020/DS-ST Ngày 18 tháng 9 năm 2020 V/v "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thuận
Bà Nguyễn Thị Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thanh Dung - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng, Tòa án xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 220/2019/TLST-DS ngày 17/12/2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 220/2020/QĐST-DS ngày 25/5/2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 220/2020/QĐST-DS ngày 10/6/2020; Quyết định tạm ngưng phiên tòa số 40/2020/QĐST-DS ngày 08/7/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2020/QĐST-DS ngày 27/8/2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; Địa chỉ: Số 266-268 đường N, phường 8, quận 3, thành phố H. Đại diện theo ủy quyền: Bà Hà Thị V, sinh năm 1980 – Chức vụ: Phó phòng Kiểm soát rủi ro Ngân hàng TMCP S - chi nhánh H; Địa chỉ: 240 đường T, thành phố Đ (theo Giấy ủy quyền số 3387A/2019/GUQ-PL ngày 21/10/2019 của Tổng giám đốc và Giấy ủy quyền số 433/2019/GUQ-CNSH ngày 23/10/2019 của Giám đốc Ngân hàng TMCP S - chi nhánh H); có mặt tại phiên tòa.
2. Bị đơn: Ông Đỗ Phú N; sinh năm 1996; Địa chỉ: K325/H21/47 đường V, phường V, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – bà Hà Thị V trình bày:
Ngày 12/9/2018, ông Đỗ Phú N có ký với Ngân hàng TMCP S – chi nhánh H 01 Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu được gọi chung là Hợp đồng).
Căn cứ thu nhập của ông N, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 25.000.000 đồng với mục đích: tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông N đã thực hiện các giao dịch với số tiền: 80.400.000đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông N đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 65.070.000đồng. Trong đó: thanh toán gốc: 57.097.682 đồng, lãi + phí phát sinh: 7.972.318 đồng.
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông N vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông N vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 23/10/2019 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Tính đến ngày 18/9/2020, ông Đỗ Phú N còn nợ ngân hàng các khoản sau: Nợ gốc 20.546.102 đồng, lãi trong hạn 2.756.216, lãi quá hạn 10.057.276 đồng, tổng cộng 33.359.594 đồng (Bằng chữ: Ba mươi ba triệu ba trăm năm mươi chín ngàn năm trăm chín mươi bốn đồng) với các mức lãi suất áp dụng cụ thể: Lãi suất trong hạn từ ngày 22/10/2018 đến 14/8/2019 là 2,15%/ tháng; Lãi suất trong hạn từ ngày 15/8/2019 đến 22/10/2019 là 2,6%/ tháng; Lãi suất quá hạn từ ngày 23/10/2019 đến ngày 18/9/2020 là 3,9%/tháng.
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp và yêu cầu ông N có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để ông N trả nợ, tuy nhiên ông N vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.
Do vậy Ngân hàng TMCP S đề nghị Tòa án tuyên buộc ông Đỗ Phú N phải thanh toán nợ vay cho Ngân hàng TMCP S số tiền nợ gốc và lãi phát sinh: 33.359.594 đồng tính đến ngày 18/9/2020 (Trong đó nợ gốc: 20.546.102 đồng, lãi trong hạn 2.756.216, lãi quá hạn 10.057.276 đồng). Và lãi quá hạn phát sinh tiếp theo tính từ ngày 19/9/2020 theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) đã ký vào ngày 12/9/2018 trên số tiền nợ gốc còn lại cho đến khi ông N thanh toán xong khoản nợ.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng pháp luật.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc ông Đỗ Phú N phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền là 33.359.594 đồng tính đến ngày 18/9/2020 (Trong đó nợ gốc: 20.546.102 đồng, lãi trong hạn 2.104.187 đồng, phí trễ hạn 652.029 đồng, lãi quá hạn 10.057.276 đồng). Và lãi quá hạn phát sinh tiếp theo tính từ ngày 19/9/2020 theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký vào ngày 12/9/2018 trên số tiền nợ gốc còn lại cho đến khi Ông N thanh toán xong khoản nợ và phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là ông Đỗ Phú N đã được Tòa án thực hiện các thủ tục triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng đến lần thứ hai vẫn không có mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 để xét xử vắng mặt đương sự nói trên.
Về nội dung vụ án: Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng do ông Đỗ Phú N đăng ký ngày 12/9/2018 và được Ngân hàng phê duyệt ngày 12/9/2018 để ông N được sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng với hạn mức 25.000.000 đồng. Quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông Đỗ Phú N không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng, ông thực hiện đợt thanh toán cuối cùng vào ngày 22/5/2019 nên ngày 23/10/2019 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Do đó, ngày 06/12/2019, Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đỗ Phú N phải trả cho Ngân hàng số tiền là 24.453.452 đồng (trong đó, số tiền gốc là 23.302.318 đồng và lãi phát sinh là 1.151.134 đồng tính đến ngày 29/11/2019) cùng tiền lãi quá hạn phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận và phải chịu mọi chi phí phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án buộc ông Đỗ Phú N phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 33.359.594 (Trong đó nợ gốc: nợ gốc: 20.546.102 đồng, lãi trong hạn 2.104.187 đồng, phí trễ hạn 652.029 đồng, lãi quá hạn 10.057.276 đồng tính đến ngày 18/9/2020). Việc nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện về phần lãi như trên là không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu.
Đối với bị đơn – ông Đỗ Phú N: Từ khi Toà án thụ lý vụ án cho đến khi xét xử không có mặt theo giấy triệu tập; thông báo của Toà án, không có ý kiến đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, không tham gia các phiên hoà giải và cũng không tham gia phiên toà nên không có ý kiến lưu hồ sơ vụ án.
Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S thì thấy: Căn cứ "Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 12/9/2018 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng" của Ngân hàng phê duyệt cho ông Đỗ Phú N hạn mức sử dụng thẻ tín dụng cũng như Bản tóm tắt sao kê thể hiện các lần giao dịch cũng như thanh toán của ông Đỗ Phú N trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định Ngân hàng TMCP S đã cấp thẻ tín dụng cho ông Đỗ Phú N, hạn mức thẻ: 25.0000.000 đồng; lãi suất trong hạn thay đổi theo từng thời kì; lãi suất quá hạn bằng 150% của lãi suất trong hạn. Tính đến ngày 18/9/2020, ông Đỗ Phú N còn nợ Ngân hàng số tiền là 33.359.594 đồng (Trong đó nợ gốc: 20.546.102 đồng, lãi trong hạn 2.104.187 đồng, phí trễ hạn 652.029 đồng, lãi quá hạn 10.057.276 đồng). Đây là Hợp đồng tín dụng, có nội dung và hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên khi ông N vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền khởi kiện. Như vậy, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận; cần buộc ông N phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên vay đối với số tiền còn nợ như trên cho Ngân hàng theo quy định tại Điều 463, khoản 1, khoản 5 Điều 466 Bộ luật dân sự và các Điều 91, 98 Luật các Tổ chức tín dụng 2010.
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn – ông Đỗ Phú N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm: 33.359.594 đồng x 5% ~ 1.667.980 đồng.
Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 63, 147, 180, 227, 228, 235, 266 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ §iÒu 463 vµ kho¶n 1, kho¶n 5 §iÒu 466 Bé luËt d©n sù; các Điều 91, 98 Luật các Tổ chức tín dụng 2010;
Căn cứ Nghị quyết số 3 26/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện v/v "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng" của Ngân hàng TMCP S đối với ông Đỗ Phú N.
Buộc ông Đỗ Phú N phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền là 33.359.594đ (Ba mươi ba triệu ba trăm năm mươi chín ngàn năm trăm chín mươi bốn đồng), bao gồm: Nợ gốc: 20.546.102 đồng, lãi trong hạn 2.104.187 đồng, phí trễ hạn 652.029 đồng, lãi quá hạn 10.057.276 đồng tính đến ngày 18/9/2020.
Kể từ ngày 19/9/2020 mà bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì số tiền lãi tiếp tục phát sinh cho đến ngày thanh toán hết mọi khoản nợ với mức lãi suất theo "Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 12/9/2018 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng" của Ngân hàng TMCP S.
2. Án phí và chi phí tố tụng khác:
- Án phí Dân sự sơ thẩm: 1.667.980đ (Một triệu, sáu trăm sáu mươi bảy ngàn chín trăm tám mươi đồng), ông Đỗ Phú N phải chịu.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí 611.336đ (Sáu trăm mười một ngàn ba trăm ba mươi sáu đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng theo biên lai thu số 0001629 ngày 17-12-2019.
3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND quận Thanh Khê; - Chi cục THADS quận Thanh Khê; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngọc Hà |