vanban.org

Bản án 35/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín.

Trường hợp ông Nguyễn Đức Hinh không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi toàn bộ số tiền còn nợ tại Ngân hàng cụ thể: (1) Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín tranh chấp hợp đồng tín dụng với Nguyễn Đức H, Nguyễn Thị C"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 299 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN PHONG
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2020/DS-ST
Ngày 07/12/2020
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Tiến và ông Nguyễn Thế Long.

Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Trí Tuấn – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Phong , tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong tham gia phiên tòa: bà Lưu Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 07/12/2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai Vụ án Dân sự thụ lý số 108/2020/TLST – DS ngày 13 tháng 7 năm 2020 về Tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2020/QĐST-DS ngày 13/10/2020 giữa các đương sự:

a. Nguyên đơn:

Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín;

Địa chỉ: số 266 - 268 Nam Kỳ khởi nghĩa, phường 8, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch Diễm – Chức vụ: Tổng giám đốc;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Thành Trung – Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Bắc Ninh;

Người được ủy quyền lại: Ông Đào Quang Tuệ – Chức vụ: Trưởng Phòng kiểm soát rủi ro – Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín Chi nhánh Bắc Ninh. Ông Tuệ có mặt.

b. Bị đơn:

Ông Nguyễn Đức Hinh, sinh năm 1971; (vắng mặt);

Bà Nguyễn Thị Cúc, sinh năm 1973; (vắng mặt);

Cùng trú tại: Thôn Tiền Thôn, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

c. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Đức Huy, sinh năm 1991; (vắng mặt);

Chị Nguyễn Thị Hương, sinh năm 1993; (vắng mặt);

Cùng trú tại: Thôn Tiền Thôn, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 27/4/2019, ông Nguyễn Đức Hinh có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín – chi nhánh Bắc Ninh – PGD Tiên Du Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, số thẻ 356481- 0158, số tài khoản thẻ 3817817921.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay là: 01 Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 242, tờ bản đồ số 04; địa chỉ: thôn Tiền Thôn, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh; diện tích: 181 m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 517395, số vào sổ cấp GCN: 01067 QSDĐ/378 do UBND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 05/10/2000 cho hộ ông Nguyễn Đức Hinh. Tài sản được thế chấp cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số LD/1611400013/HĐTCa số công chứng: 1721.2016/TTSĐBS, quyển số: 01/2016/HĐGD ngày 27/4/2016 và các văn bản thỏa thuận sửa đổi bổ sung kèm theo tại Văn phòng Công chứng A7, tỉnh Bắc Ninh. Tài sản được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Sau khi thực hiện ký kết hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, thực hiện đăng ký tài sản thế chấp tại cơ quan có thẩm quyền, ông Hinh đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 56.344.000 đồng. Từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Nguyễn Đức Hinh đã thanh toán cho ngân hàng số tiền là 9.725.000 đồng. Tuy nhiên, đến ngày 30/11/2019, ông Nguyễn Đức Hinh và bà Nguyễn Thị Cúc đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng; cụ thể từ thời điểm đó đến nay, ông Hinh, bà Cúc không thực hiện bất kỳ nghĩa vụ trả lãi, gốc nào cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện để ông Hinh, bà Cúc thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng vẫn không có kết quả.

Nay Ngân hàng yêu cầu ông Nguyễn Đức Hinh và bà Nguyễn Thị Cúc phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín tổng số nợ còn thiếu tạm tính đến ngày 07/12/2020: 72.259.827 đồng (Bằng chữ: Bẩy hai triệu, hai trăm năm chín nghìn, tám trăm hai bẩy đồng); trong đó: Nợ gốc: 55.746.367 đồng; lãi quá hạn: 16.513.460 đồng.

Nếu ông Hinh, bà Cúc không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền kê biên phát mại tài sản thế chấp là: (1) Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 517395, số vào sổ cấp GCN: 01067 QSDĐ/378 do UBND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 05/10/2000 cho hộ ông Nguyễn Đức Hinh. Thông tin tại GCN QSDĐ như sau: Thửa đất số 242, tờ bản đồ số 04; diện tích: 181m2 thuộc địa chỉ: thôn Tiền Thôn, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. (2) Toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất trên.

Trường hợp phát mại tài sản trên mà không đủ thanh toán cho khoản vay thì ông Nguyễn Đức Hinh và bà Nguyễn Thị Cúc phải tiếp tục nghĩa vụ trả nợ cho đến khi tất toán khoản vay.

Phía bị đơn là ông Nguyễn Đức Hinh trong buổi làm việc với Tòa án không đồng ý trả khoản vay này do ông Hinh cho rằng khoản vay này là của anh Nguyễn Đức Huy – là con trai của ông Hinh, bà Cúc nên anh Huy phải có nghĩa vụ trả nợ. Sau đó, phía bị đơn vắng mặt tại các buổi làm việc còn lại của Tòa án nên không cung cấp được thêm lời khai và chứng cứ. Bà Cúc vắng mặt tại các buổi làm việc và không trình bầy về yêu cầu của nguyên đơn.

Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Đức Huy, chị Nguyễn Thị Hương đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, được niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có mặt theo giấy triệu tập làm việc của Tòa án, không tham gia tố tụng và cung cấp bất kỳ lời khai, chứng cứ gì.

Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong phát biểu ý kiến về tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật, phía bị đơn không chấp hành đúng đúng quy định của pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 30, 35, 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 318, 323, 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự và Điều 80, 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín. Buộc ông Nguyễn Đức Hinh phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín tổng số nợ còn thiếu tạm tính đến ngày 07/12/2020: 72.259.827đ (Bẩy hai triệu, hai trăm năm chín nghìn, tám trăm hai bẩy đồng); trong đó: Nợ gốc: 55.746.367đ; lãi quá hạn: 16.513.460đ.

Ông Nguyễn Đức Hinh phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 08/12/2020 đến khi tất toán khoản vay thẻ tín dụng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng.

Về án phí: Ông Hinh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

. Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín khởi kiện đối với ông Nguyễn Đức Hinh và bà Nguyễn Thị Cúc thuộc quan hệ pháp luật Tranh chấp hợp đồng tín dụng. Ông Nguyễn Đức Hinh và bà Nguyễn Thị Cúc cư trú tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Do vậy theo quy định tại khoản 1 Điều 30, Điểm b khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

. Xét Đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 27/4/2019 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín khởi kiện đối với ông Nguyễn Đức Hinh và bà Nguyễn Thị Cúc thì thấy:

Về hình thức của hợp đồng tín dụng: Hợp đồng được ký kết bằng văn bản giữa đại diện Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín: ông Đỗ Văn Lam – Trưởng Phòng giao dịch Tiên Du – Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Bắc Ninh làm đại diện và với ông Nguyễn Đức Hinh. Việc ký kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với pháp luật. Như vậy Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và ông Nguyễn Đức Hinh đảm bảo đúng các điều kiện về chủ thể theo quy định của pháp luật. Bà Cúc không ký hợp đồng, không có lời khai của bà Cúc về khoản vay nợ này, cho nên không buộc bà Cúc phải trả nợ theo yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín.

Về nội dung hợp đồng: Ngày 27/4/2019, ông Nguyễn Đức Hinh và bà Nguyễn Thị Cúc thỏa thuận với Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Bắc Ninh về việc cấp tín dụng với số tiền 50.000.000đ theo Đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 27/4/2019. Nội dung các bên thỏa thuận tại hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật.

. Để bảo đảm cho khoản vay của ông Nguyễn Đức Hinh hộ gia đình ông Nguyễn Đức Hinh đã ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất với Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín. 01 Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 242, tờ bản đồ số 04; địa chỉ: thôn Tiền Thôn, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh; diện tích: 181 m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 517395, số vào sổ cấp GCN: 01067 QSDĐ/378 do UBND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 05/10/2000 cho hộ ông Nguyễn Đức Hinh. Tài sản được thế chấp cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số LD/1611400013/HĐTCa số công chứng: 1721.2016/TTSĐBS, quyển số: 01/2016/HĐGD ngày 27/4/2016 và các văn bản thỏa thuận sửa đổi bổ sung kèm theo tại Văn phòng Công chứng A7, tỉnh Bắc Ninh. Tài sản thế chấp là tài sản của hộ gia đình ông Nguyễn Đức Hinh, tại thời điểm thế chấp có đầy đủ các thành viên trong hộ ký tên vào hợp đồng thế chấp hợp pháp cho khoản vay. Việc ký hợp đồng thế chấp này tuân thủ đầy đủ các điều kiện quy định pháp luật về các yếu tố chủ thể, nội dung, hình thức của hợp đồng thế chấp tài sản nên cần được công nhận.

Xét quá trình thực hiện hợp đồng: thì trong quá trình thực hiện hợp đồng vay đến ngày 30/11/2019, phía ông Hinh đã không thực hiện việc thanh toán định kỳ cho Ngân hàng. Toàn bộ số nợ còn lại đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 30/11/2019. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện để ông Hinh, bà Cúc thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng vẫn không có kết quả. Do vậy việc không trả tiền gốc và lãi của ông Nguyễn Đức Hinh khi đến hạn thanh toán là vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi của bên vay.

. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín yêu cầu ông Nguyễn Đức Hinh phải trả số nợ tổng cộng cả gốc và lãi tạm tính đến ngày 07/12/2020: 72.259.827đ (Bẩy hai triệu, hai trăm năm chín nghìn, tám trăm hai bẩy đồng); trong đó: Nợ gốc: 55.746.367đ; lãi quá hạn: 16.513.460đ. thì thấy: Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và ông Nguyễn Đức Hinh là hợp pháp, khi ký kết hợp đồng các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, các thỏa thuận trong hợp đồng đều tự nguyện và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Nội dung và hình thức của hợp đồng đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Do vậy việc không trả tiền gốc và lãi của ông Nguyễn Đức Hinh khi đến hạn thanh toán là vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi của bên vay, phù hợp với thỏa thuận của các bên trong các điều khoản của Hợp đồng tín dụng được ký kết. Ông Hinh cho rằng khoản vay này là của anh Nguyễn Đức Huy – con trai của ông Hinh, tuy nhiên lại không cung cấp được tài liệu chứng cứ về khoản vay này. ông Hinh cũng đã xác nhận chữ ký trong hợp đồng vay với Ngân hàng là của mình nên yêu cầu của ông Hinh là không có căn cứ. Do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín.

Đối với anh Nguyễn Đức Huy, chị Nguyễn Thị Hương là các thành viên trong hộ gia đình ông Nguyễn Đức Hinh. Tuy nhiên, tại Hợp đồng thế chấp và Đơn đăng ký thế chấp gửi đến cơ quan có thẩm quyền, anh Huy, chị Hương đều đã đồng ý với nội dung của hợp đồng, đơn đăng ký và ký tên vào dưới các văn bản trên. Do vậy việc thế chấp này là hợp pháp; những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia tố tụng nên việc xem xét trên dựa theo các thỏa thuận hợp pháp tại Hợp đồng thế chấp là phù hợp.

Nếu ông Hinh không trả khoản tiền nêu trên thì Ngân hàng Thương mại cổ Sài Gòn Thương Tín có quyền có quyền yêu cầu phát mại tài sản là Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 517395, số vào sổ cấp GCN: 01067 QSDĐ/378 do UBND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 05/10/2000 cho hộ ông Nguyễn Đức Hinh. Thông tin tại GCN QSDĐ như sau: Thửa đất số 242, tờ bản đồ số 04; diện tích: 181m2 thuộc địa chỉ: thôn Tiền Thôn, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

. Về án phí: Ông Nguyễn Đức Hinh phải chịu án phí dân sự. Hoàn trả Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 39, Điểm b khoản 1 Điều 35, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 299, 317, 318, 320, 323, 327, 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Điều 90, 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín. Buộc ông Nguyễn Đức Hinh phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín tổng số tiền cả gốc và lãi tính đến ngày 07/12/2020: 72.259.827 đồng (Bằng chữ: Bẩy hai triệu, hai trăm năm chín nghìn, tám trăm hai bẩy đồng); trong đó: Nợ gốc: 55.746.367 đồng; lãi quá hạn: 16.513.460 đồng. Ông Nguyễn Đức Hinh phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 08/12/2020 đến khi tất toán khoản vay thẻ tín dụng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng

Trường hợp ông Nguyễn Đức Hinh không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi toàn bộ số tiền còn nợ tại Ngân hàng cụ thể:

(1) Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 517395, số vào sổ cấp GCN: 01067 QSDĐ/378 do UBND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 05/10/2000 cho hộ ông Nguyễn Đức Hinh. Thông tin tại GCN QSDĐ như sau: Thửa đất số 242, tờ bản đồ số 04; diện tích: 181m2 thuộc địa chỉ: thôn Tiền Thôn, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. (2) Toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất trên.

Trường hợp phát mại tài sản trên mà không đủ thanh toán cho khoản vay thì ông Nguyễn Đức Hinh phải tiếp tục nghĩa vụ trả nợ cho đến khi tất toán khoản vay.

Sau khi ông Nguyễn Đức Hinh thanh toán trả nợ đầy đủ cho Ngân hàng thì phía Ngân hàng có nghĩa vụ giải chấp tài sản của hộ gia đình ông Nguyễn Đức Hinh đã thế chấp tại Ngân hàng theo quy định của pháp luật. Cụ thể hoàn trả Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 517395, số vào sổ cấp GCN: 01067 QSDĐ/378 do UBND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 05/10/2000 cho hộ ông Nguyễn Đức Hinh. Thông tin tại GCN QSDĐ như sau: Thửa đất số 242, tờ bản đồ số 04; diện tích: 181m2 thuộc địa chỉ: thôn Tiền Thôn, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

Về án phí: ông Nguyễn Đức Hinh phải chịu 3.612.992 đồng tiền án phí dân sự. Hoàn trả Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín số tiền 1.410.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/000479 ngày 09/7/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự;

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc niêm yết./. Nơi nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh.

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- VKSND tỉnh, huyện.

- Thi hành án.

- Các đương sự

- Lưu hồ sơ, VP.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Văn Tiến Nguyễn Thế Long

Nguyễn Xuân Phương

Cỡ chữ