vanban.org

Bản án 35/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 27/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Quốc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phan Quốc V 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, được tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 16/5/2019. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy và tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước đối với các vật chứng như sau: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số 35 - Bị cáo Phan Quốc V - Tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Quốc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 35/2019/HS-ST.
Ngày 27 - 9 - 2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thành Triều.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thanh Hồng;

2. Ông Phan Thanh Tâm.

- Thư ký phiên toà: Dương Thị Thùy Trang – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình; Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2019/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2019; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2019/QĐXXST-HS ngày 06/9/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên Phan Quốc V (tự N), sinh năm 1978; Nơi đăng ký Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phan Chí T, sinh năm 1957 và bà Đinh Thị Ph, sinh năm 1958; Vợ: Võ Thị Bé H, sinh năm 1977; Con: có 02 (Hai) người con tên Phan Mỹ Ngh, sinh năm 1999 và Phan Quốc H, sinh năm 2008;

Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 16/11/2018, Bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh ban hành Quyết định số 46/QĐ-TA, về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở điều trị nghiện bắt buộc, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thời gian 12 tháng chưa chấp hành xong.

Tạm giữ ngày 16/5/2019; tạm giam ngày 19/5/2019.

Bị cáo đang bị tạm giam và có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thanh L, sinh năm: 1969 (có đơn xin xét xử vắng mặt);

Trú tại: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng:

1. Ngô Kỳ Ph (T), sinh năm: 1988 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp;

2. Nguyễn Văn Mẫn A, sinh năm: 1985 (vắng mặt);

Trú tại: ấp B, xã B, huyện Th, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Phan Quốc V bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 08 giờ 50 phút, ngày 16/5/2019 Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự Công an huyện Th kết hợp với Công an xã B, bắt quả tang bị cáo Phan Quốc V có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, nên lập biên bản quả tang tạm giữ người và niêm phong tang vật theo quy định.

Kết quả điều tra xác định: Bị cáo Phan Quốc V là người nghiện ma túy, bản thân không có việc làm ổn định, để thỏa mãn nhu cầu bản thân là có ma túy để sử dụng. Nên vào khoảng 05 giờ ngày 16/5/2019, bị cáo V điện thoại cho người thanh niên tên “T” ở tỉnh An Giang (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) hỏi mua 01 (một) bịch ma túy với giá 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) và nhận ma túy tại khu vực chợ B, huyện Th. Sau khi nhận được ma túy, bị cáo V cất giấu vào bên trong hộp nhựa màu đen, rồi để trong túi quần của bị cáo đang mặc và điện thoại cho Ngô Kỳ Ph (tự T), sinh năm 1988 ở xã H, thành phố C; bị cáo hỏi Ph có ở quán karaoke T hay không, để cùng sử dụng ma túy, Ph trả lời có, nên bị cáo điều khiển xe mô tô Air Black, biển số 66F1-387.44 đến phòng số 4, quán Karaoke T, thuộc ấp B, xã B, huyện Th do Nguyễn Văn Mẫn A làm chủ.

Tại đây, bị cáo V đã lấy bịch ma túy mua được chia nhỏ thành 06 (sáu) bịch ma túy có kích thước khác nhau, rồi lấy 01 bịch ma túy trong số 06 (sáu) bịch ma túy nói trên để vào nỏ thủy tinh để sử dụng; 05 bịch ma túy còn lại bị cáo V cất giấu trong hộp nhựa màu đen để trong túi quần phía trước bên phải của bị cáo, rồi cùng sử dụng ma túy đá với Ph. Lúc này, Nguyễn Văn Mẫn A đi vào phòng gặp V và Ph đang sử dụng ma túy nên cùng sử dụng ma túy chung, khi cả 03 người đang sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang và thu giữ bên trong túi quần Jean phía trước bên phải của bị cáo V 01 (một) hộp nhựa màu đen, bên trong có 05 bịch nylon màu trắng được hàn kín, có chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng (nghi là ma túy) nên tạm giữ người và niêm phong tang vật theo quy định.

Tại Bản kết luận giám định số 394/KL-KTHS ngày 17/5/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ, kết luận: 05 (năm) bịch nylon màu trắng hàn kín, được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu A1 gửi đi giám định đều là chất ma túy, có tổng khối lượng 2,7088gam, loại Methamphetamine; Tinh thể rắn màu trắng và màu nâu trong 1 (một) nỏ thủy tinh, được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu A2 gửi đi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng do mẫu ít.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Th, bị cáo V đã thừa nhận toàn bộ hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung đã nêu trên.

* Về vật chứng gồm:

- 01 (một) phong bì được niêm phong ký hiệu A1, có ghi niêm phong số 402/A1, ghi ngày 16/5/2019 có đóng dấu tròn màu đỏ của “Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đ” có chữ ký ghi họ tên Trương Minh V, Bùi Văn D, Nguyễn Hoài Nh, bị cáo Phan Quốc V là chất ma túy, có tổng khối lượng 2,7088 gam, loại Methamphetamine. Và 01 (một) phong bì được niêm phong ký hiệu A2, có ghi niêm phong số 402/A2, ghi ngày 18/5/2019, có đóng dấu tròn màu đỏ của “Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đ” có chữ ký ghi họ tên Trương Minh V, Hồ Thế V là chất ma túy, không xác định được khối lượng, loại Methamphetamine.

- 01 (một) cân điện tử, màu đen; 01 (một) túi vải màu xanh, xám đen, đã qua sử dụng; 01 (một) hộp nhựa màu đen, kích thước 9,5cm x 6,5cm x 1,9cm, có chữ “FOCUS” màu trắng; 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng dài 7,5cm, bề rộng cán kéo 3,8cm, thân kéo 0,5cm; 01 (một) ống hút nhựa màu xanh, một đầu hàn kín, một đầu nhọn, kích thước 7,5cm x 0,6cm; 01 (một) bịch nylon màu trắng, hàn kín, nhưng bị cắt một đầu, kích thước 2,1cm x 1,4cm (đã qua sử dụng); 01 (một) chai nhựa màu trắng, nắp màu đỏ, trên nắp có hai lỗ tròn, có gắn ống hút màu trắng, bên trong chai có đoạn ống hút màu trắng; 01 (một) bình thủy tinh màu tím, bên trong có một lỗ tròn gắn nỏ thủy tinh; 01 (một) chai ga mini hiệu Blue star, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng, cán nhựa màu xanh, dài 13cm; 01 (một) cây kìm bằng kim loại màu trắng, dài 10cm, hiệu “PHAT”; 01 (một) cây kìm bằng kim loại màu trắng, dài 10cm, hiệu “Nghia”; 01 (một) ống hút màu trắng, dài 29cm; 04 (bốn) hột quẹt ga bị bể.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen của bị cáo V (đã qua sử dụng); do bị cáo V sử dụng điện thoại nêu trên vào việc phạm tội, nên đề nghị tịch thu điện thoại hóa giá nộp ngân sách Nhà nước.

- Đối với xe mô tô biển số 66F1-387.44, hiệu AIR BLADE, màu đỏ đen do bị cáo V điều khiển. Quá trình điều tra xác định xe mô tô trên là tài sản của anh Nguyễn Thanh L, sinh năm 1969, trú tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên đã trao trả lại cho anh L xong.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu trắng, đã qua sử dụng và số tiền VNĐ là 90.000đ (Chín mươi nghìn đồng) là tài sản của bị cáo Phan Quốc V, không liên quan đến hành vi phạm tội nên đã trao trả lại cho bị cáo V xong.

Đối với Ngô Kỳ Ph và Nguyễn Văn Mẫn A bị bắt quả tang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy chung với bị cáo Phan Quốc V. Quá trình điều tra không có căn cứ chứng minh Ph và Mẫn A giúp sức cho bị cáo V, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Th tách hồ sơ xử lý hành chính theo quy định của Pháp luật.

Đối với người thanh niên tên “T” ở tỉnh An Giang bán ma túy cho V, do không biết được họ tên, địa chỉ cụ thể; nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Th không có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý.

Tại Cáo trạng số: 33/CT-VKS ngày 19 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình truy tố bị cáo Phan Quốc V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên; đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm s, v khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo V từ 12 đến 18 tháng tù. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án xử lý theo quy định.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, về trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng; các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng là phù hợp theo quy định pháp luật, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phan Quốc V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đã tàng trữ trái phép chất ma túy vào ngày 16/5/2019.

Xét thấy, bị cáo V là đối tượng nghiện ma túy, để có ma túy sử dụng; vào khoảng 05 giờ ngày 16/5/2019, bị cáo điện thoại cho người thanh niên tên “T” ở tỉnh An Giang (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) hỏi mua 01 (một) bịch ma túy với giá 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) và nhận ma túy tại khu vực chợ B, huyện Th. Sau khi nhận được ma túy, bị cáo V cất giấu vào bên trong hộp nhựa màu đen để trong túi quần, rồi bị cáo điều khiển xe mô tô đến phòng số 4, quán Karaoke T; tại đây bị cáo đã lấy bịch ma túy mua được chia nhỏ thành 06 (sáu) bịch ma túy, rồi lấy 01 bịch ma túy để vào nỏ thủy tinh để sử dụng chung với Ph, Mẫn A; còn lại 05 bịch ma túy bị cáo cất giấu trong trong túi quần. Khi cả 03 người đang sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang và thu giữ bên trong túi quần Jean của bị cáo V 05 bịch nylon màu trắng được hàn kín, có chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng được giám định kết luận là ma túy có tổng khối lượng 2,7088 gam, loại Methamphetamine.

Bị cáo V biết rằng ma túy là chất gây nghiện, chất hướng thần gây ảo giác mạnh và vô cùng độc hại đối với người sử dụng; Nhà nước đã nghiêm cấm các hoạt động về sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, chiếm đoạt, sử dụng trái phép chất ma túy. Thế nhưng bị cáo vẫn sử dụng rồi trở thành đối tượng nghiện, do nghiện ma túy không từ bỏ được bị cáo đã bất chấp pháp luật, nên ngày 16/5/2019 bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Từ phân tích, nhận định trên đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo V phạm tội quả tang; về tội tàng trữ trái phép chất ma túy vào ngày 16/5/2019 là hoàn toàn phù hợp với Kết luận giám định số 394/KL-KTHS ngày 17/5/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập được; phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm và nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Hành vi của bị cáo V là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng; do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do mình gây ra. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải được xử lý nghiêm trước pháp luật, để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, nhằm mục đích giáo dục, cai nghiện, tạo điều kiện cho bị cáo trở thành người có ích cho bản thân, gia đình và xã hội; đồng thời, để phòng ngừa chung trong toàn xã hội, nhất là tình hình tệ nạn về ma túy hiện nay trên địa bàn huyện Thanh Bình nói riêng và tỉnh Đồng Tháp nói chung. Xét thấy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)………………………………;

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo V đã được Giám đốc Công an tỉnh Đồng Tháp tặng “Giấy khen ngày 17/7/2019” vì đã có thành tích xuất sắc trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc. Đồng thời, để thực hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay đối với người phạm tội và để tạo điều kiện cho bị cáo sớm được trở về đoàn tụ gia đình và hòa nhập cộng đồng xã hội; nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là phù hợp theo quy định tại điểm s, v khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xét, bị cáo V hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bản thân chỉ sống nhờ vào phần ít đất ruộng và bị cáo không có nghề nghiệp ổn định; nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo là phù hợp theo quy định pháp luật.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy và tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước đối với các vật chứng như sau:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì được niêm phong ký hiệu A1, có ghi niêm phong số 402/A1, ghi ngày 16/5/2019 có đóng dấu tròn màu đỏ của “Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đ”, có chữ ký ghi họ tên Trương Minh V, Bùi Văn D, Nguyễn Hoài Nh, Phan Quốc V là chất ma túy, có tổng khối lượng 2,7088 gam, loại Methamphetamine và 01 (một) phong bì được niêm phong ký hiệu A2, có ghi niêm phong số 402/A2, ghi ngày 18/5/2019, có đóng dấu tròn màu đỏ của “Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đ”, có chữ ký ghi họ tên Trương Minh V, Hồ Thế V là chất ma túy, không xác định được khối lượng, loại Methamphetamine. Do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ hoàn trả sau giám định.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cân điện tử, màu đen; 01 (một) túi vải màu xanh, xám đen, đã qua sử dụng; 01 (một) hộp nhựa màu đen, kích thước 9,5cm x 6,5cm x 1,9cm, có chữ “FOCUS” màu trắng; 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng dài 7,5cm, bề rộng cán kéo 3,8cm, thân kéo 0,5cm; 01 (một) ống hút nhựa màu xanh, một đầu hàn kín, một đầu nhọn, kích thước 7,5cm x 0,6cm; 01 (một) bịch nylon màu trắng, hàn kín, nhưng bị cắt một đầu, kích thước 2,1cm x 1,4cm (đã qua sử dụng); 01 (một) chai nhựa màu trắng, nắp màu đỏ, trên nắp có hai lỗ tròn, có gắn ống hút màu trắng, bên trong chai có đoạn ống hút màu trắng; 01 (một) bình thủy tinh màu tím, bên trong có một lỗ tròn gắn nỏ thủy tinh; 01 (một) chai ga mini hiệu Blue star, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng, cán nhựa màu xanh, dài 13cm; 01 (một) cây kìm bằng kim loại màu trắng, dài 10cm, hiệu “PHAT”; 01 (một) cây kìm bằng kim loại màu trắng, dài 10cm, hiệu “Nghia”; 01 (một) ống hút màu trắng, dài 29cm; 04 (bốn) hột quẹt ga bị bể.

- Tịch thu hóa giá: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen của bị cáo V (đã qua sử dụng) để sung quỹ Nhà nước.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/8/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Th với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Th).

Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt anh Nguyễn Thanh L; nhưng theo lời khai và tài liệu thể hiện trong hồ sơ, hiện nay anh L đã nhận lại xe mô tô biển số 66F1-387.44 hiệu AIR BLADE do bị cáo V điều kiển và không có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm; đồng thời, anh L đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh L là phù hợp theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử thấy rằng bản luận tội của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; phù hợp với vật chứng và lời khai của những người làm chứng, cùng các tài liệu, chứng cứ, tình tiết khách quan của vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; nên được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm;

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo luật định;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phan Quốc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s, v khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phan Quốc V 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, được tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 16/5/2019.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy và tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước đối với các vật chứng như sau:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì được niêm phong ký hiệu A1, có ghi niêm phong số 402/A1, ghi ngày 16/5/2019 có đóng dấu tròn màu đỏ của “Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đ”, có chữ ký ghi họ tên Trương Minh V, Bùi Văn D, Nguyễn Hoài Nh, Phan Quốc V là chất ma túy, có tổng khối lượng 2,7088 gam, loại Methamphetamine và 01 (một) phong bì được niêm phong ký hiệu A2, có ghi niêm phong số 402/A2, ghi ngày 18/5/2019, có đóng dấu tròn màu đỏ của “Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đ”, có chữ ký ghi họ tên Trương Minh V, Hồ Thế V là chất ma túy, không xác định được khối lượng, loại Methamphetamine. Do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ hoàn trả sau giám định.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cân điện tử, màu đen; 01 (một) túi vải màu xanh, xám đen, đã qua sử dụng; 01 (một) hộp nhựa màu đen, kích thước 9,5cm x 6,5cm x 1,9cm, có chữ “FOCUS” màu trắng; 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng dài 7,5cm, bề rộng cán kéo 3,8cm, thân kéo 0,5cm; 01 (một) ống hút nhựa màu xanh, một đầu hàn kín, một đầu nhọn, kích thước 7,5cm x 0,6cm; 01 (một) bịch nylon màu trắng, hàn kín, nhưng bị cắt một đầu, kích thước 2,1cm x 1,4cm (đã qua sử dụng); 01 (một) chai nhựa màu trắng, nắp màu đỏ, trên nắp có hai lỗ tròn, có gắn ống hút màu trắng, bên trong chai có đoạn ống hút màu trắng; 01 (một) bình thủy tinh màu tím, bên trong có một lỗ tròn gắn nỏ thủy tinh; 01 (một) chai ga mini hiệu Blue star, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng, cán nhựa màu xanh, dài 13cm; 01 (một) cây kìm bằng kim loại màu trắng, dài 10cm, hiệu “PHAT”; 01 (một) cây kìm bằng kim loại màu trắng, dài 10cm, hiệu “Nghia”; 01 (một) ống hút màu trắng, dài 29cm; 04 (bốn) hột quẹt ga bị bể.

- Tịch thu hóa giá: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen của bị cáo V (đã qua sử dụng) sung quỹ Nhà nước.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/8/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Th với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Th).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo Phan Quốc V phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng Nguyễn Thanh L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa niêm yết bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Cỡ chữ