vanban.org

Bản án 35/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 19/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Phạm Văn V 02(hai) năm 06(sáu) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ng y 29/10/2018; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2019/HS-ST
Ngày: 19/3/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN – TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Chương.

Các hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Phạm Văn Chính

2/ Bà Nguyễn Thị Kim Liên

Thư ký phiên tòa: B Nguyễn Thị Tố Nguyên Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, th nh phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triệu - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, th nh phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 20/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/ 2019/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

Phạm Văn V sinh năm 1984 tại tỉnh Nam Định; thường trú: Ấp 7, xã Đắc Lua, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: V Nam; con ông: Phạm Văn H (đã chết) và bà Trần Thị L; chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 29/10/2018. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các t i liệu có trong hồ sơ vụ án v diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

V o lúc 08 giờ 40 ng y 29/10/2018, tại bãi đất trống thuộc tổ 6, ấp Đông Lân, xã B Điểm, huyện Hóc Môn, Tp.Hồ Chí Minh, công an xã B Điểm, huyện Hóc Môn phát hiện bắt quả tang Phạm Văn V đang cất giấu trái phép chất ma túy để bán cho người nghiện. Công an thu giữ trong túi quần bên trái phía trước của V 01 hũ nhựa đựng 12 đoạn ống nhựa m u xanh h n kín bên trong chứa chất bột m u trắng.

Qua giám định chất bột m u trắng trong 12 đoạn ống nhựa thu giữ có tổng khối lượng 0,3234 gram l ma túy ở thể rắn, loại Heroin.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, V khai nhận bản thân nghiện ma túy từ tháng 6 năm 2017 đến nay. V o lúc 06 giở 30 ng y 29/10/2018 V đón xe ôm đi đến trước Ngân h ng Aribank chi nhánh Hóc Môn mua của người thanh niên (không rõ lai lịch) 12 tép ma túy với giá 800.000 đống cất giấu trong túi quần với ý định đi ra bãi đất trống nêu trên nếu có ai hỏi mua thì bán v sau đó đón xe buýt về Bình Dương, trong lúc đang đi tìm chưa có người mua thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ:

- 01 gói ma túy đã niêm phong số 1772.

- 01 hũ nhựa

- 270.000đồng tiền V Nam.

- 02 điện thoại di động gôm 01 hiệu Nokia 112 v 01 hiệu itel m u đen.

Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKS-HS ngày 28 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, th nh phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phạm Văn V về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khỏan 1 Điều 251 Bộ luật hình sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Sau đây được gọi tắt l Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, th nh phố Hồ Chí Minh sau khi nêu lại nội dung vụ án, phân tích tính chất v hậu quả của vụ án đối với xã hội, sau khi nêu lên những tình tiết tăng nặng v giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đã đề nghị xử phạt bị cáo từ 02(hai) năm đến 03(ba) năm tù; tịch thu tiêu hủy 01(một) gói heroine và 01(một) hũ nhựa; trả lại cho bị cáo 02(hai) điện thọai di động và số tiền 270.000đồng; phạt bị cáo nộp số tiền tử 5.000.000đồng đến 10.000.000đồng sung công quỹ Nhà nước.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận h nh vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ.

Căn cứ v o các chứng cứ v t i liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ v o kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, to n diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về h nh vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, th nh phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, th nh phố Hồ Chí Minh, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra v tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về h nh vi, quyết định của cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng. Do đó các h nh vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của bị cáo Phạm Văn V tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, bản kết luận điều tra của công an huyện Hóc Môn, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn v đồng thời phù hợp với các t i liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: V o lúc 08 giờ 40 ng y 29/10/2018, tại bãi đất trống thuộc tổ 6, ấp Đông Lân, xã B Điểm, huyện Hóc Môn, Tp.Hồ Chí Minh, công an xã B Điểm, huyện Hóc Môn phát hiện bắt quả tang Phạm Văn V đang cất giấu trái phép chất ma túy để bán cho người nghiện. Căn cứ bản kết luận giám định số 1772/KLGĐ-H ngày 02/11/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an th nh phố Hồ Chí Minh kết luận: Bột m u trắng được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) l ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,3234g (không phẩy ba hai ba bốn gam) loại Heroine. Hành vi như đã nêu trên của bị cáo Phạm Văn V đã phạm v o tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tội phạm v hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, th nh phố Hồ Chí Minh đã truy tố để xét xử bị cáo theo điều luật đã viện dẫn trên l đúng người, đúng tội, nên buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật định.

[3] Bị cáo l người đã th nh niên, có đủ khả năng nhận thức v điều khiển h nh vi của mình, bị cáo thừa hiểu rằng h nh vi mua bán trái phép chất ma túy để thu lợi bất chính l thực sự gây nguy hiểm cho xã hội, chống lại chủ trương b i trừ ma túy của Đảng v Nh nước, l m lây lan tệ nạn hút chích ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an tại địa phương, l một trong các nguyên nhân gây nên các loại tội phạm khác nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Bản thân bị cáo l đối tượng nghiện heroine nên hơn ai hết bị cáo ý thức được tác hại của heroine, nhưng bị cáo vẫn tiếp tục bán ma túy cho người khác góp phần gieo rắc cái chết trắng cho xã hội. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội m bị cáo đã gây ra nhằm có tác dụng cải tạo v giáo dục bị cáo th nh người tốt, có ích cho gia đình v xã hội, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử có xem xét:

[4] Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự .

[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ: tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải về h nh vi phạm tội của mình, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Do đó áp dụng điểm s khoản 1, khỏan 2 Điều 51 Bộ luật hình sự có phần giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[6] Ngo i hình phạt chính Hội đồng xét xử còn quyết định áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự phạt bị cáo 5.000.000đồng nộp v o ngân sách Nhà nước.

Đối với đối tượng bán trái phép chất ma túy cho bị cáo chưa rõ lai lịch, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn tiếp tục truy xét l m rõ xử lý sau.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 gói ma túy đã niêm phong số vụ 1772; 01 hũ nhựa dùng để đựng ma túy nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia 112; 01 điện thoại di động hiệu itel m u đen v số tiền 270.000đồng là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến việc mua bán ma túy nên Hội đồng xét xử xét thấy trả lại cho bị cáo nhưng giao cho Chi cục thi h nh án dân sự huyện Hóc Môn tạm giữ để đảm bảo thi hành án;

[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khỏan 2 Điều 51; các Điều 32, 38, 50, của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Phạm Văn V 02(hai) năm 06(sáu) tháng tù;

Thời hạn tù tính từ ng y 29/10/2018;

- Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo Phạm Văn V nộp 5.000.000đ(năm triệu đồng) vào ngân sách Nh nước;

- Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tạm giam bị cáo Phạm Văn V 45 ng y kể từ ng y tuyên án để đảm bảo thi h nh án;

- Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;

- Áp dụng điểm a, điểm c, khoản 2, khỏan 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy 01(một) gói niêm phong số 1772; 01(một) hũ nhựa;

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia 112; 01 điện thoại di động hiệu itel m u đen v số tiền 270.000đ(hai trăm bảy mươi ngàn đồng) nhưng giao cho Chi cục thi h nh án dân sự huyện Hóc Môn tạm giữ để đảm bảo thi hành án;

(Tang vật được ghi theo phiếu nhập kho vật chứng số 29/PNK ngày 15/01/2019 của Công an huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh và giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.9061672 tại KBNN: Hóc Môn lập ngày 17/12/2018);

- Áp dụng Điều 357 Bộ luật dân sự;

Kể từ ng y bản án có hiệu lực pháp luật nếu bị cáo Phạm Văn V chưa thi h nh khoản tiền nêu trên thì h ng tháng bị cáo còn phải trả thêm tiền lãi của số tiền còn phải thi h nh án theo mức lãi suất quy địmh tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án;

Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Văn V phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm;

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi h nh án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi h nh án, quyền yêu cầu thi h nh án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự;

Áp dụng các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh để xin xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ